Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, thiên tai gia tăng cả về tần suất và mức độ, rừng phòng hộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước, hạn chế xói mòn đất, lũ lụt, sạt lở và bảo đảm an toàn cho đời sống dân cư. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Luật Đất đai năm 2024 đã có những quy định cụ thể, chặt chẽ về việc Nhà nước giao đất rừng phòng hộ cho các đối tượng phù hợp để quản lý, sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng. Việc xác định đúng đối tượng được giao đất không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, lâm nghiệp mà còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc để phát huy trách nhiệm của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ rừng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

1. Đất rừng phòng hộ là gì? 

Theo điểm c khoản 2 Điều 9 Luật Đất đai năm 2024, đất rừng phòng hộ là một loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp.Là một bộ phận của nhóm đất nông nghiệp, đất rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu vào mục đích xây dựng, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Loại đất này bao gồm đất đang có rừng phòng hộ hiện hữu và đất đã được Nhà nước giao hoặc cho thuê để trồng, khoanh nuôi, phục hồi, tái sinh và phát triển rừng phòng hộ. Việc xếp đất rừng phòng hộ vào nhóm đất nông nghiệp thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước trong việc coi rừng là một bộ phận quan trọng của sản xuất nông – lâm nghiệp gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái, chứ không đơn thuần là đối tượng khai thác kinh tế.

Bên cạnh đó, theo điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP, đất rừng phòng hộ là loại đất được Nhà nước xác lập và quản lý nhằm phục vụ mục đích bảo vệ, duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Đây là loại đất mà trên đó có rừng phòng hộ được hình thành và bảo tồn theo quy hoạch, hoặc đã được giao, cho thuê cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để thực hiện các hoạt động trồng, khoanh nuôi, tái sinh và phát triển rừng phòng hộ.

Với chức năng chủ yếu là phòng hộ môi trường, đất rừng phòng hộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ đất và nguồn nước, hạn chế xói mòn, sạt lở, chống sa mạc hóa, điều hòa khí hậu, giảm nhẹ tác động của thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão gió, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và bảo đảm phát triển bền vững. Do mang tính chất sử dụng đặc thù, việc quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về lâm nghiệp, bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, qua đó hướng tới mục tiêu lâu dài là bảo vệ lợi ích công cộng và môi trường sinh thái.

2. Những đối tượng được Nhà nước giao đất rừng phòng hộ để quản lý, sử dụng, bảo vệ, phát triển rừng theo Luật Đất đai 2024?

Theo khoản 1 điều 185 Luật đất đai 2024, Nhà nước giao đất rừng phòng hộ để quản lý, sử dụng, bảo vệ, phát triển theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp cho các đối tượng sau đây: 

- Ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân

Đây là các chủ thể được Nhà nước giao đất rừng phòng hộ để quản lý tập trung, thống nhất và chuyên trách. Ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng là những đơn vị có chức năng trực tiếp tổ chức bảo vệ, khoanh nuôi, phục hồi và phát triển rừng theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt. Đối với các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, việc giao đất rừng phòng hộ còn nhằm kết hợp mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là tại các khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, khu vực trọng yếu.

- Tổ chức kinh tế đối với đất rừng phòng hộ xen kẽ trong diện tích đất rừng sản xuất của tổ chức đó

Quy định này cho phép tổ chức kinh tế được giao hoặc sử dụng đất rừng phòng hộ trong trường hợp diện tích đất rừng phòng hộ nằm xen kẽ, đan xen trong phạm vi đất rừng sản xuất mà tổ chức đang quản lý, sử dụng hợp pháp. Việc giao đất trong trường hợp này nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong quản lý đất đai, tránh chia cắt không gian sử dụng đất, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết hợp giữa phát triển sản xuất lâm nghiệp với nhiệm vụ bảo vệ rừng và môi trường sinh thái.

- Cá nhân cư trú hợp pháp trên địa bàn cấp xã nơi có rừng phòng hộ

Cá nhân được giao đất rừng phòng hộ phải là người cư trú hợp pháp tại địa phương nơi có rừng, qua đó bảo đảm sự gắn bó trực tiếp giữa người dân với diện tích rừng được giao. Quy định này thể hiện chủ trương của Nhà nước trong việc huy động sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, gắn quyền lợi của cá nhân với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên rừng, đồng thời góp phần ổn định đời sống và sinh kế cho người dân vùng có rừng phòng hộ.

- Cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã nơi có rừng phòng hộ

Cộng đồng dân cư được giao đất rừng phòng hộ là những cộng đồng có truyền thống sinh sống lâu đời, có mối quan hệ gắn bó mật thiết với rừng. Việc giao đất cho cộng đồng dân cư nhằm phát huy vai trò quản lý rừng dựa vào cộng đồng, bảo tồn tri thức bản địa, phong tục, tập quán tốt đẹp trong bảo vệ rừng, đồng thời tăng cường trách nhiệm tập thể trong việc gìn giữ, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo hướng bền vững.

Tóm lại, Nhà nước giao đất rừng phòng hộ cho các chủ thể gồm ban quản lý rừng, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức kinh tế trong trường hợp đất rừng phòng hộ xen kẽ, cá nhân cư trú hợp pháp tại địa phương và cộng đồng dân cư nơi có rừng, nhằm bảo đảm quản lý thống nhất, phát huy vai trò của Nhà nước, tổ chức và người dân trong bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

3. Quyền và nghĩa vụ của các đối tượng được Nhà nước giao đất rừng phòng hộ 

Theo quy định tại khoản 2,3,4 Luật đất đai 2024, các đối tượng được Nhà nước giao đất rừng phòng hộ không chỉ có trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mà còn được bảo đảm những quyền nhất định trong quá trình sử dụng đất. Cụ thể như sau: 

Thứ nhất, các đối tượng được Nhà nước giao đất rừng phòng hộ được xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng nhằm phục vụ trực tiếp cho hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, với điều kiện việc xây dựng này phải tuân thủ quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc đầu tư các công trình cần thiết như đường tuần tra rừng, chòi canh, trạm bảo vệ rừng…, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ.

Thứ hai, người được Nhà nước giao đất rừng phòng hộ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, đối với tài sản là tài sản công, pháp luật không ghi nhận trên Giấy chứng nhận, nhằm bảo đảm sự phân định rõ ràng giữa quyền sử dụng đất của người được giao và quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài sản công.

Thứ ba, người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ ban quản lý rừng phòng hộ và ban quản lý rừng đặc dụng, được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này phải bảo đảm phù hợp với quy định tại khoản 8 Điều 45 của Luật này, qua đó thể hiện rõ tính hạn chế và điều kiện trong việc khai thác, sử dụng đất rừng phòng hộ nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và môi trường sinh thái.

Như vậy, các quy định trên đã xác lập đầy đủ quyền và giới hạn quyền của các đối tượng được Nhà nước giao đất rừng phòng hộ, bảo đảm sự hài hòa giữa việc trao quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận và yêu cầu quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, qua đó góp phần bảo vệ, phát triển bền vững rừng phòng hộ và lợi ích chung của Nhà nước, cộng đồng và xã hội.

4. Hạn chế đối tượng nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trong khu vực rừng phòng hộ và rừng đặc dụng

Khoản 8 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024 quy định các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, giới hạn nghiêm ngặt đối với việc dịch chuyển quyền sử dụng đất trong khu vực rừng phòng hộ và rừng đặc dụng nhằm bảo đảm mục tiêu bảo vệ rừng, môi trường sinh thái và lợi ích công cộng. Cụ thể như sau: 

a) Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

Quy định này nhằm hạn chế việc tập trung đất rừng vào các chủ thể kinh tế, phòng ngừa nguy cơ sử dụng đất sai mục đích, đồng thời bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với các loại đất có chức năng bảo vệ đặc biệt.

b) Cá nhân không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở và đất khác trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng đó

 Quy định này thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc ưu tiên giao đất cho người dân địa phương có mối quan hệ sinh sống, gắn bó trực tiếp với rừng, qua đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng, hạn chế tình trạng đầu cơ đất đai và xâm hại tài nguyên rừng.

Nhìn chung, các quy định trên đã thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ đối với việc nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trong khu vực rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, nhằm bảo vệ tính đặc thù của đất rừng, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Kết luận 

Quy định về các đối tượng được Nhà nước giao đất rừng phòng hộ theo Luật Đất đai 2024 không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn thể hiện định hướng quản lý lâu dài, nhất quán của Nhà nước trong việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ. Thông qua việc giao đất cho đúng chủ thể có đủ năng lực, trách nhiệm và gắn bó trực tiếp với rừng, Nhà nước tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng cường công tác bảo vệ rừng, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng hệ thống rừng phòng hộ vững chắc, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sống và phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.