Mẫu 01. Đề thi Ngữ Văn lớp 12 Học kì 1 cập nhật mới nhất năm 2023 - 2024
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm )
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Trung thực rất tinh tế và khó phân biệt qua lời nói hay hành động. Đôi khi đức tính trung thực bị xem là đã “lỗi thời”, chỉ còn trên sách vở, không thực tế hoặc chẳng hay ho gì để ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, trung thực là yếu tố căn bản để có sự bình an trong tâm trí, là nền tảng cho sự tự do nội tâm và mối quan hệ lành mạnh. Trước đây, tôi từng cho rằng bình an là giá trị quan trọng nhất, nhưng giờ tôi thấy trung thực mới chính là nền tảng của tất cả giá trị khác.
Gần đây tôi có gặp một phụ nữ trẻ, xinh đẹp, có ba người con rất đáng yêu. Giỏi giang, thông minh và giàu có nhưng chị tâm sự chị không hài lòng chút nào về bản thân. Chị luôn so sánh mình với hai người chị dâu, là những nữ doanh nhân cực kì sắc sảo và thành đạt. Chị đánh giá mình chỉ là một người phụ nữ vô tích sự, chẳng làm được trò trống gì, đã thế lại còn thất nghiệp. Thực ra, chị đã không trung thực với chính mình khi chỉ nhìn vào những điểm mạnh của những người chị dâu, và đánh giá họ hoàn toàn dựa trên những cái mình không có. Trung thực trong lòng giúp ta đánh giá lại mình một cách chính xác và thực tế: biết và đánh giá cao ưu điểm của mình bên cạnh việc nhận ra nhược điểm của bản thân.
(Trích Lăng kính tâm hồn - Trish Summerfield, NXB Tổng hợp tp Hồ Chí Mimh)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2. Trong văn bản, tác giả đã chỉ ra sai lầm nào của người phụ nữ khi nhận thức về bản thân?
Câu 3. Anh chị hiểu như thế nào về ý kiến: Trung thực là yếu tố căn bản để có được sự bình an trong tâm trí, là nền tảng cho sự tự do nội tâm và mối quan hệ lành mạnh?
Câu 4. Anh /chị có đống tình với quan niệm: Thiếu sự trung thực với chính mình sẽ đồng nghĩa với việc nhận thức sai về bản thân không? Vì sao?
PHẦN II: LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ ý nghĩa của đoạn trích phần Đọc hiểu, anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về giá trị của lòng trung thực trong mối quan hệ với chính mình và với người khác.
Câu 2 (5,0 điểm)
Phân tích truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi.
ĐÁP ÁN:
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính:
Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích là mô tả và suy luận.
Câu 2: Sai lầm của người phụ nữ:
Người phụ nữ không trung thực với chính mình khi so sánh mình với người chị dâu, chỉ tập trung vào những điểm mạnh của họ mà không nhìn nhận và đánh giá đúng về bản thân.
Câu 3: Ý kiến về giá trị của lòng trung thực:
Giá trị của lòng trung thực được đánh giá cao, xem đó như nền tảng để đạt được sự bình an tâm trí, là cơ sở cho sự tự do nội tâm và xây dựng mối quan hệ lành mạnh.
Câu 4: Liên quan giữa trung thực và nhận thức đúng về bản thân:
Có đồng nghĩa với việc thiếu sự trung thực với chính mình sẽ dẫn đến nhận thức sai về bản thân, vì trung thực trong lòng giúp đánh giá lại mình một cách chính xác, đồng thời nhận thức rõ ưu điểm và nhược điểm của bản thân.
PHẦN II: LÀM VĂN
Câu 1: Ý nghĩa của lòng trung thực trong mối quan hệ:
Lòng trung thực là nền tảng của mối quan hệ vững chắc. Nó giúp chúng ta nhìn nhận bản thân một cách chính xác, không lạc quan quá mức hoặc tự ti không đáng. Với người khác, lòng trung thực tạo ra sự tin cậy và sự chân thành. Trong mối quan hệ, sự trung thực giúp chúng ta hiểu rõ đối tác, xây dựng niềm tin và tôn trọng, đồng thời giảm bớt rủi ro xung đột không cần thiết.
Câu 2: Phân tích truyện "Những đứa con trong gia đình":
Đề bài không cung cấp thông tin về nội dung của truyện "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi, do đó không thể thực hiện phân tích chi tiết. Để trả lời câu hỏi này, cần có thông tin chi tiết về nội dung của truyện ngắn này.
Mẫu 02. Đề thi Ngữ Văn lớp 12 Học kì 1 cập nhật mới nhất
PHẦN I: ĐỌC HIỂU ( 3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
“…Đối với tôi, nguyên tắc thành công đến từ một điều cơ bản: sống trong thế chủ động. Cần gì thì lên tiếng. Muốn gì thì đấu tranh. Kiến thức do học tập. Thành tựu nhờ lao động. Chẳng có cái gì ở trên đời này tự nhiên mà có. Chủ động lèo lái thì mới có cơ may đưa con thuyền cuộc đời cập bến bờ mơ ước. Dù sóng gió, giông bão xảy ra trên hải trình vạn dặm, có giữ vững bánh lái, cầm chắc tay chèo thì mới đến được đất liền. Sống mà không biết tự cứu lấy mình, sống thụ động buông thả, thì cũng giống như một con bè trên dòng nước lớn, để mặc sóng gió xô đâu trôi đó, được chăng hay chớ, rồi sẽ mệt nhoài vì dông bão cuộc đời.
… Chẳng xuống nước thì không thể biết bơi. Sống thụ động thì chẳng khác gì đời cây cỏ. Như thế khác nào tự đào hố chôn mình. Sống ở thế chủ động là chủ động học tập, chủ động hỏi han, chủ động giúp đỡ người khác, chủ động gợi ý người khác giúp đỡ mình. Chứ em không cứu mình thì ai cứu được em.”
( Trích “Em không tự cứu mình thì ai cứu em” của Rosie Nguyễn – Cuốn Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu, Nxb Hội nhà văn, 2017, trang 120-121)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Theo tác giả, sống trong thế chủ động có những biểu hiện nào?
Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan điểm “Em không cứu mình thì ai cứu được em” không? Vì sao?
PHẦN II: LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1.(2.0 điểm)
Từ nội dung của văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa cách sống ở thế chủ động của tuổi trẻ hôm nay.
Câu 2. (5.0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
(Trích Tây Tiến, Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập một, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.89, 2015)
ĐÁP ÁN:
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Câu 1: Phương thức biểu đạt:
Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là lập luận, giảng dạy.
Câu 2: Sống trong thế chủ động:
Theo tác giả, sống trong thế chủ động là cần nói lên ý chí và sự tự lập trong cuộc sống. Điều này bao gồm việc nói lên những điều mình cần và đấu tranh để đạt được mục tiêu. Sự chủ động còn biểu hiện trong việc học tập, lao động và giúp đỡ người khác.
Câu 3: Biện pháp tu từ và tác dụng:
Biện pháp tu từ: "mệt nhoài vì dông bão cuộc đời."
Tác dụng: Tạo hình ảnh mệt mỏi, khó khăn của cuộc sống khi không sống chủ động.
Câu 4: Đồng tình với quan điểm "Em không cứu mình thì ai cứu được em" không? Vì sao?
Đây là ý kiến cá nhân, có thể đồng tình hoặc không đồng tình tùy thuộc vào quan điểm cá nhân của người đọc. Lý do có thể liên quan đến quan điểm về tự chủ và trách nhiệm cá nhân.
PHẦN II: LÀM VĂN
Câu 1: Ý nghĩa cách sống ở thế chủ động của tuổi trẻ:
Cách sống ở thế chủ động mang lại cho tuổi trẻ sự tự lập, ý chí mạnh mẽ và khả năng đối mặt với khó khăn trong cuộc sống. Điều này giúp họ xây dựng mục tiêu, định hình tương lai và phát triển bản thân một cách tích cực.
Câu 2: Phân tích đoạn thơ "Tây Tiến":
Đoạn thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng mô tả không khí chiến trường, với đoàn binh không mọc tóc, chiến trường xanh màu lá dữ oai. Hình ảnh mắt trừng gửi mộng qua biên giới thể hiện lòng nhớ nhà, và đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm là hình ảnh mơ ước về hòa bình và sự yêu thương quê hương. Đoạn thơ còn thể hiện tinh thần độc lập, kiên cường và quyết tâm của lính chiến trường, chiến đấu không tiếc đời.
Mẫu 3. Đề thi Ngữ Văn lớp 12 Học kì 1 cập nhật
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Học sinh thường quan niệm, đi học thêm sẽ nâng cao, bổ sung được thêm nhiều kiến thức, đồng nghĩa với việc, cơ hội đỗ đạt thi cử càng cao. Nhưng trên thực tế, không phải cứ học thêm là kiến thức của bạn tăng vọt, và cũng không ít người chỉ học trên lớp và tự học mà vẫn đạt kết quả cao trong học tập. Muốn nâng cao kiến thức, ngoài việc chăm chú lắng nghe các bài giảng của thầy cô giáo thì phần quyết định vẫn ở bản thân bạn. Mỗi học sinh cần tự trang bị cho mình tinh thần tự học, ôn luyện đều đặn thì dù không học thêm, kiến thức của bạn cũng chẳng kém ai. Ngược lại, nhiều học sinh mải mê “chạy show” (học chưa xong lớp này đã mài mông đến lớp khác) học thêm, mất quá nhiều thời gian, các buổi học nối tiếp nhau, dồn dập cuối cùng cũng chẳng hiểu, chẳng nhớ được gì!
Một “sở thích” của nhiều học sinh cuối cấp đó là học tủ và đoán đề với mong muốn phần may mắn thuộc về mình, học ít mà điểm lại cao. Nhưng thật sự là người “trúng tủ” thì ít, mà người bị “tủ đè” lại nhiều không kể xiết. Đặc biệt, đối với những môn thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan việc học tủ lại càng “sai sách” bởi hình thức thi trắc nghiệm phổ tra rộng và bao quát hơn so với tự luận. Bởi thế, hãy chú trọng tất cả những kiến thức được giới hạn trong thi cử. Chỉ cố gắng, chăm chỉ ôn luyện và có phương pháp học đúng đắn, hợp lý bạn mới dễ dàng “chiến thắng” những kỳ thi.
Với tâm lý “học trước sẽ quên sau” nhiều học sinh chọn cách đến khi nào gần thi thì ôn luyện luôn một thể cho nhớ. Vậy nên gần trước ngày thi, các bạn học sinh mới nhanh chóng nhồi nhét tất cả những kiến thức cần học. Điều này chẳng những không giúp bạn nhớ lâu mà còn khiến bạn dễ bị “loạn” và phá vỡ mạch liên kết của khối kiến thức cũ. Nhiều kiến thức học dồn dập một lúc sẽ khiến bạn bị quá tải. Điều này không hề giúp bạn nâng cao điểm số, ngược lại làm tinh thần bạn mệt mỏi. Chinh vì thế, hãy lên kế hoạch học tập cụ thể, để việc ôn tập diễn ra từng bước một, học đến đâu nắm chắc kiến thức đến đó. Hãy học có chiến lược, ôn tập có kế hoạch, chuẩn bị tới từng thứ một… kì thi phía trước sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.
(Học sinh cuối cấp thường mắc phải những sai lầm này)
Câu 1. (0,5 điểm) Nêu các thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn bản trên.
Câu 2. (0,75 điểm) Người viết đã chỉ ra những sai lầm gì mà học sinh thường mắc phải trong học tập?
Câu 3. (0,75 điểm) Theo tác giả, học sinh cần làm gì để có kết quả tốt trong thi cử?
Câu 4. (1,0 điểm) Theo anh/chị, vì sao cần phải lên kế hoạch ôn tập cụ thể cho kì thi phía trước?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến được nêu ở phần Đọc hiểu: “không phải cứ học thêm là kiến thức của bạn tăng vọt”.
Câu 2. (5,0 điểm)
Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ đúng giờ ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.
Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh xuất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
(Trích Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di Gian phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng.
(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
ĐÁP ÁN:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1: Thao tác lập luận:
Trong đoạn văn bản này, người viết sử dụng thao tác lập luận qua ví dụ và giải thích để làm rõ vấn đề. Cụ thể, người viết mô tả tình huống học thêm và nhấn mạnh rằng sự thành công không chỉ phụ thuộc vào việc học thêm mà còn phải có tinh thần tự học, ôn luyện đều đặn.
Câu 2: Sai lầm của học sinh:
Người viết chỉ ra rằng một số học sinh mải mê học thêm mà không có chiến lược học tập, không tự trang bị tinh thần tự học, dẫn đến mất nhiều thời gian mà kết quả không hiệu quả. Ngoài ra, việc học tủ và đoán đề cũng được đề cập và cảnh báo về nguy cơ "tủ đè" khi thực tế là ít người "trúng tủ."
Câu 3: Đề xuất của tác giả:
Tác giả đề xuất rằng mỗi học sinh cần tự trang bị tinh thần tự học, ôn luyện đều đặn và chú trọng vào việc học các kiến thức giới hạn trong kỳ thi cụ thể. Nói chung, học sinh cần có chiến lược học tập và chuẩn bị kỹ lưỡng để đối mặt với kỳ thi.
Câu 4: Lên kế hoạch ôn tập:
Việc lên kế hoạch ôn tập cụ thể giúp học sinh ôn từng bước một, giữ cho kiến thức được nắm vững và tránh việc dồn dập ôn luyện gần ngày thi, góp phần tăng hiệu quả ôn thi và giảm áp lực tâm lý.
II. LÀM VĂN
Câu 1: Suy nghĩ về ý kiến "không phải cứ học thêm là kiến thức của bạn tăng vọt":
Với bản thân, tôi đồng cảm với quan điểm "không phải cứ học thêm là kiến thức của bạn tăng vọt." Điều quan trọng không chỉ là lượng kiến thức mà còn là cách bạn tiếp cận và xử lý chúng. Tinh thần tự học và ôn luyện đều đặn là chìa khóa cho sự thành công, không phụ thuộc hoàn toàn vào việc học thêm.
Câu 2: Phân tích đoạn thơ "Người lái đò sông Đà":
Đoạn thơ "Người lái đò sông Đà" của Nguyễn Tuân mô tả về hùng vĩ của sông Đà và công việc đò lái. Hình ảnh vách đá thành chẹt lòng sông, sóng cuồn xoáy, và cảm nhận lạnh gió như đứng ngóng trước khung cửa sổ làm cho độc giả trải qua trải nghiệm sống động. Đoạn văn thể hiện tình thần kiên cường, đồng lòng với thiên nhiên và sự gan dạ của người lái đò.
Câu 3: Phân tích đoạn văn "Ai đã đặt tên cho dòng sông?":
Đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường kể về sự sống động và biến đổi của sông Hương qua mùa và cảm nhận nó như một cô gái Di Gian phóng khoáng và man dại trong lòng Trường Sơn. Rừng già đã tạo nên cái tâm hồn tự do và trong sáng cho dòng sông. Tác giả làm cho sông trở thành một phần huyền bí, biểu tượng cho vẻ đẹp tự nhiên và tinh thần độc lập của nó.
Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau:
- Đề thi Giữa kì 1 Ngữ Văn lớp 12 Hồ Chí Minh có đáp án mới nhất