1. Di sản thừa kế là gi?

Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản  của người chết trong tài sản chung với người khác”.Di sản thừa kế là tài sản. Vì vậy, di sản thừa kế có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản. Khối  di  sản  của  người  chết để lại  bao  gồm hai loại:

- Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Tài sản riêng của người chết là tài sản thuộc sở hữu tư nhân của người chết, bao gồm: thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng, nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn dùng để sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó;

- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản  chung  với  người  khác.  Đây  là  phần  tài  sản thuộc  sở hữu  của  người  chết  trong  khối  tài  sản thuộc  sở hữu  chung  với  người  khác  ở  hình  thức sở hữu chung theo phần, sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia hoặc sở hữu hỗn hợp.

Như vậy, để  tính  phần  tài  sản  của  người  chết  trong  khối tài  sản  chung  với  người  khác  phải  tiến  hành  chia  tài  sản  chung  hoặc  rút  phần  sở hữu  của người đó  ra  khỏi  sở hữu  hỗn  hợp.  Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của  vợ  chồng được  chia  đôi,  trừ  trường  hợp  vợ hồng có thỏa thuận về chếđộ tài sản. Phần tài sản của  vợ, chồng chết hoặc  bị Tòa án tuyên bốlà đã  chết được  chia  theo  quy  định  của  pháp  luật về thừa kế”.

Việc  xác  định di  sản  thừa  kế mà  người  chết để lại  căn  cứ  vào  các  giấy  tờ,  tài  liệu  chứng minh  quyền  sở hữu  hoặc  sử dụng  hợp  pháp  đối với  khối  tài  sản đó. Đối  với  trường  hợp  di  sản thừa  kế  là  tài  sản  thuộc  sở hữu  chung  thì  việc xác định  tài  sản  chung  của  người để lại  di  sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Tài  sản được  Nhà  nước  cấp  cho  người  có  công với cách mạng sau khi họđã chết cũng là di  sản để  chia  cho  các  thừa  kế của  họ.  Trường hợp  cấp  cho  nhân  thân  người  có  công  với  cách  mạng  thì  không  phải  là  di  sản  của  người  có  công với cách mạng. Khi  xác  định  di  sản  thừa  kế của  người  chết cần chú ý các loại tài sản mà giá trị thường xuyên thay đổi  theo  thời  gian  như:  cổ  phần,  cổ  phiếu, vàng,  ngoại  tệ...  Với  những  tài  sản  này,  thông  thường  ngay  sau  thời điểm  mở  thừa  kế,  những người  thừa  kế  phải  xác  định  ngay  giá  trị  và  thỏa huận  chuyển  thành  tiền  gửi  ngân  hàng  cho  đến khi tiến hành các thủ tục phân chia di sản.

 

2. Quy định của pháp luật về di sản thừa kế

Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần  tài  sản  của  người  chết  trong  tài  sản  chung  với người khác”. Như vậy, di sản thừa kế phải là  tài  sản. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật  dân  sự năm 2015:  “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.

 

2.1. Vật

Vật là đối tượng vật chất cụ thể tồn tại khách quan  trong  thế  giới  vật  chất  mà  con  người  thông  qua tri giác, cảm giác có thể đánh giá và ghi nhận được.  Vật  phải  có  ích,  phục  vụ  cho  con  người  mà  con người có thể chiếm giữ, quản lý, sử dụng được và có thể trị giá được bằng tiền thì mới được coi là tài sản.

 

2.2. Tiền

Tiền  là  giá  trị đại  diện  cho  giá  trị  thực  của hàng hóa, của vật chất thực. Ở đây, tiền được hiểu một  cách  đơn  giản  là  tiền  Việt  Nam  hoặc  tiền nước ngoài đang có giá trị lưu thông. Đối với tiền nước ngoài, khi xác định giá trị phải quy đổi sang giá trị tiền Việt Nam theo tỷ giá hối đoái.

 

2.3. Giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá là các loại giấy tờ mà trên đó có thể hiện một giá trị thanh toán hoặc quy đổi được thành  tiền,  chỉ  những  giấy  tờ  do  Nhà  nước  phát  hành để tạo điều kiện cho việc mua bán, trao đổi, giao  dịch,  thanh  toán  có  giá  trịđược  bằng  tiền. Giấy tờ có giá  bao  gồm:  cổ  phiếu, kỳ  phiếu,  công  trái,  trái  phiếu,  tín  phiếu,  chứng chỉ  tiền  gửi,  giấy  tờ có gì khác theo quy định pháp  luật,  trị  giá  được  thành  tiền  và  được  phép  giao dịch. 

 

2.4. Quyền tài sản

Quyền  tài  sản  là  quyền  trị  giá  được  bằng tiền  và  có  thểđược  chuyển  dịch,  mua  bán,  trao  đổi,  như  quyền đòi  nợ,  quyền đối  với  phần  vốn góp,  quyền sở hữu đối với  phát  minh,  sáng  chế, kiểu  dáng  công  nghiệp,  nhãn  hiệu  hàng  hóa,  quyền sử dụng đất... (xem Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015).  Tài  sản được  phân  thành  bất động  sản  và  động  sản. Bất động  sản,  bao  gồm: đất đai;  nhà,  công  trình  xây  dựng  gắn  liền  với đất đai;  tài  sản khác  gắn  liền  với đất đai,  nhà,  công  trình  xây  dựng;  tài  sản  khác  theo  quy  định  của  pháp  luật. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản (Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015).

Tài sản có thể  là  tài  sản  hiện  có và  tài  sản hình thành trong tương lai. Tài  sản hiện có là tài  sản đã  hình  thành và  chủ  thểđã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với  tài  sản  trước hoặc  tại  thời điểm  xác  lập giao dịch. Tài sản hiện có là đối tượng vật chất cụ thể tồn tại khách quan trong thế giới vật chất mà con người thông  qua  tri  giác, cảm  giác có thểđánh  giá và  ghi nhận được. Tài  sản  hiện có phải có ích, phục vụ cho con người mà con người có thể chiếm giữ quản lý, sử dụng được và có thể trị giá được bằng tiền thì mới được coi là tài sản. 

 

2.5. Tài sản hình thành trong tương lai

Tài  sản  hình  thành  trong  tương  lai  là  tài  sản chưa hình thành hoặc tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm  xác  lập  giao  dịch  (khoản  2 Điều 108 BLDS 2015). Tài  sản  hình  thành  trong  tương  lai  là  những  tài  sản  tại  thời điểm đang  xét, tài  sản  chưa  hình  thành  hình  thái  “vật  chất  -  sản  phẩm” để  trở  thành  đối  tượng xác lập quan hệ sở hữu đầy đủ (như nguyên liệu chưa  tạo nên thành phẩm; hoa lợi, lợi tức chưa đến kỳ thu hoạch;  công  trình  đang  xây  dựng; đất đai đang làm cơ sở hạ tầng chưa nghiệm thu và  bàn  giao...), hoặc tài  sản đã hình thành nhưng theo định chế  pháp  luật  thể  hiện  trên giấy tờ,  nội dung thỏa thuận, thì quyền sở hữu đối với vật ấy chưa được chuyển giao và xác lập đầy đủ cho chủ thể đang xét (như  hàng  hóa  chưa  nhập  kho,  tài  sản  mà  theo  hợp đồng  chưa đến thời điểm chuyển giao hay người mua chưa hoàn  tất  việc  sang  tên, động  sản vô chủ nhưng chưa hết thời  hạn  thông  báo  tìm  chủ sở hữu...) nên chưa thuộc sở hữu đầy đủ của chủ thể nhưng trong tương lai chắc chắn nó sẽ thuộc sở hữu của họ.

 

3. Quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp có phải di sản thừa kế không?

Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối  với  tác  phẩm  do  mình  sáng  tạo  ra  hoặc  sở hữu (bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều 18).  Đối  tượng  quyền  tác  giả  bao  gồm  tác  phẩm văn  học,  nghệ  thuật,  khoa  học; đối  tượng  quyền liên  quan  đến  quyền  tác  giả  bao  gồm  cuộc  biểu diễn,  bản  ghi  âm,  ghi  hình,  chương  trình  phát  sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa (khoản 1 Điều 3). Quyền  sở hữu  công  nghiệp  là  quyền  của  tổchức,  cá  nhân  đối  với  sáng  chế,  kiểu  dáng  công  nghiệp,  thiết  kế bố  trí  mạch  tích  hợp  bán  dẫn, nhãn  hiệu,  tên  thương  mại,  chỉ dẫn địa  lý,  bí  mật  kinh  doanh  do  mình  sáng  tạo  ra  hoặc  sởhữu và quyền chống  cạnh  tranh  không  lành  mạnh (khoản 4 Điều 4).

Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu  dáng công  nghiệp,  thiết  kế bố  trí  mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương  mại và  chỉ dẫn địa  lý (khoản 2  Điều 3). Như vậy, quyền  tác  giả,  quyền  sở hữu  công  nghiệp  cũng là di sản  thừa  kế.  Bởi  lẽ, đây  là  những  quyền  nhân  thân  gắn  với  tài  sản.  Các  quyền  này  có  thể  mua  bán,  tặng  cho,  chuyển nhượng,  có  nghĩa  là  đối  tượng  của  giao  dịch  dân  sự. Do đó, khi những người sở hữu những quyền này  chết  thì  người đó để lại  quyền,  các  lợi  ích  phát  sinh  từ  việc  sở hữu  các  quyền  này.  Đối  với quyền  sở hữu  công  nghiệp  -  một  loại tài  sản  có  tính đặc thù nên việc thừa kế cũng có những nét riêng.  Theo  quy  định  của Luật  sở hữu  trí  tuệ năm  2005  sửa đổi,  bổ  sung  năm  2009,  quyền  sở hữu đối  với các  đối  tượng  sở hữu  công  nghiệp được cấp văn  bằng  bảo  hộ  thì  được bảo hộ  trong  thời  hạn  văn  bằng  bảo  hộ có hiệu  lực  (văn  bằng có thể được gia hạn theo quy định của pháp luật). Do vậy, nếu trong thời hạn bảohộ mà chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp chết thì  vẫn được để lại  thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

 

4. Di sản là phần vốn góp trong doanh nghiệp

Đối  với  phần  vốn  góp  trong  công  ty  trách  nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, theo quy định  tại Điều  53  Luật  doanh  nghiệp  năm 2020: “Trường hợp thành viên công ty là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên công ty. Trường hợp thành viên là cá nhân bị Tòa án tuyên bố mất tích thì quyền và nghĩa vụ của thành viên được thực hiện thông qua người quản lý tài sản của thành viên đó theo quy định của pháp luật về dân sự”. Trường  hợp  không  có  người  thừa  kế,  người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.  Đối với  công ty cổ phần, khoản 3 Điều 127, Luật doanh  nghiệp năm 2020 quy định: “Trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa  kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổđông đó là cổ đông của công ty”. Như vậy, theo các quy định trên, người hưởng di  sản  thừa  kế  là  phần  vốn  góp  trong  doanh  nghiệp thì trở thành thành viên doanh nghiệp.

 

5. Quyền của người để lại di sản thừa kế

Khi lập di chúc người để lại di sản có quyền sau:

  • Chỉ định người thừa kế: Người lập di chúc có quyền để lại  di  sản  cho  bất  cứ  cá  nhân  hoặc tổ chức nào.
  • Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế: Quyền của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc họ có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật, mà không nhất thiết phải nêu lý do.
  • Phân định phần di sản cho từng người thừa kế: Người  lập di chúc có quyền  phân  chia  một cách  cụ thể  di  sản của  mình  cho  người  thừa  kế. Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗi người, không nhất thiết phải ngang nhau mà không cần phải nêu lý do.
  • Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng: Người lập di chúc có thể để lại một phần di sản vào việc thờ cúng hoặc để di tặng cho  người  khác. Phần di sản  dùng vào việc di  tặng, thờ cúng không được chia thừa kế. 
  • Giao nghĩa vụ cho người thừa kế: Theo sự chỉ định trong di chúc, người thừa  kế  phải  thực hiện  một  công  việc  vì  lợi  ích vật chất  của  người khác mà đáng lẽ khi còn sống, người để lại di sản phải thực  hiện như  trả nợ,  bồi thường  thiệt  hại... Tuy  nhiên, người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di sản.
  • Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản,  người phân  chia  di  sản: Để  tránh việc thất lạc, hư hỏng di chúc, cũng như để đảm bảo ý nguyện của mình   không bị người khác xâm phạm, người lậpdi chúc có thể gửi di chúc ở cơ quan công chứng nhà nước hoặc bất kỳ người nào mà mình tin tưởng giữ bản di chúc. Đồng thời, để di sản của người lập di chúc để lại không bị mất mát, hư hỏng cần  có người quản  lý di sản. Tôn trọng ý chí của người lập di chúc nên trước hết người quản lý di sản phải là người được chỉđịnh trong  di  chúc, khi nào trong di chúc không xác  định người quản lý di sản thì sẽ xác định người quản lý di sản.
 

6. Quy định pháp luật về di sản dùng vào thờ cúng?

Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.