- 1. Di sản thừa kế là gi?
- 2. Quy định của pháp luật về di sản thừa kế
- 2.1. Vật
- 2.2. Tiền
- 2.3. Giấy tờ có giá
- 2.4. Quyền tài sản
- 2.5. Tài sản hình thành trong tương lai
- 3. Quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp có phải di sản thừa kế không?
- 4. Di sản là phần vốn góp trong doanh nghiệp
- 5. Quyền của người để lại di sản thừa kế
- 6. Quy định pháp luật về di sản dùng vào thờ cúng?
1. Di sản thừa kế là gi?
Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.Di sản thừa kế là tài sản. Vì vậy, di sản thừa kế có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản. Khối di sản của người chết để lại bao gồm hai loại:
- Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Tài sản riêng của người chết là tài sản thuộc sở hữu tư nhân của người chết, bao gồm: thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng, nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn dùng để sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó;
- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Đây là phần tài sản thuộc sở hữu của người chết trong khối tài sản thuộc sở hữu chung với người khác ở hình thức sở hữu chung theo phần, sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia hoặc sở hữu hỗn hợp.
Như vậy, để tính phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác phải tiến hành chia tài sản chung hoặc rút phần sở hữu của người đó ra khỏi sở hữu hỗn hợp. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ hồng có thỏa thuận về chếđộ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bốlà đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế”.
Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó. Đối với trường hợp di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Tài sản được Nhà nước cấp cho người có công với cách mạng sau khi họđã chết cũng là di sản để chia cho các thừa kế của họ. Trường hợp cấp cho nhân thân người có công với cách mạng thì không phải là di sản của người có công với cách mạng. Khi xác định di sản thừa kế của người chết cần chú ý các loại tài sản mà giá trị thường xuyên thay đổi theo thời gian như: cổ phần, cổ phiếu, vàng, ngoại tệ... Với những tài sản này, thông thường ngay sau thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế phải xác định ngay giá trị và thỏa huận chuyển thành tiền gửi ngân hàng cho đến khi tiến hành các thủ tục phân chia di sản.
2. Quy định của pháp luật về di sản thừa kế
Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Như vậy, di sản thừa kế phải là tài sản. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
2.1. Vật
Vật là đối tượng vật chất cụ thể tồn tại khách quan trong thế giới vật chất mà con người thông qua tri giác, cảm giác có thể đánh giá và ghi nhận được. Vật phải có ích, phục vụ cho con người mà con người có thể chiếm giữ, quản lý, sử dụng được và có thể trị giá được bằng tiền thì mới được coi là tài sản.
2.2. Tiền
Tiền là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hóa, của vật chất thực. Ở đây, tiền được hiểu một cách đơn giản là tiền Việt Nam hoặc tiền nước ngoài đang có giá trị lưu thông. Đối với tiền nước ngoài, khi xác định giá trị phải quy đổi sang giá trị tiền Việt Nam theo tỷ giá hối đoái.
2.3. Giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là các loại giấy tờ mà trên đó có thể hiện một giá trị thanh toán hoặc quy đổi được thành tiền, chỉ những giấy tờ do Nhà nước phát hành để tạo điều kiện cho việc mua bán, trao đổi, giao dịch, thanh toán có giá trịđược bằng tiền. Giấy tờ có giá bao gồm: cổ phiếu, kỳ phiếu, công trái, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có gì khác theo quy định pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch.
2.4. Quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thểđược chuyển dịch, mua bán, trao đổi, như quyền đòi nợ, quyền đối với phần vốn góp, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đất... (xem Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015). Tài sản được phân thành bất động sản và động sản. Bất động sản, bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản (Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015).
Tài sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thểđã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch. Tài sản hiện có là đối tượng vật chất cụ thể tồn tại khách quan trong thế giới vật chất mà con người thông qua tri giác, cảm giác có thểđánh giá và ghi nhận được. Tài sản hiện có phải có ích, phục vụ cho con người mà con người có thể chiếm giữ quản lý, sử dụng được và có thể trị giá được bằng tiền thì mới được coi là tài sản.
2.5. Tài sản hình thành trong tương lai
Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản chưa hình thành hoặc tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch (khoản 2 Điều 108 BLDS 2015). Tài sản hình thành trong tương lai là những tài sản tại thời điểm đang xét, tài sản chưa hình thành hình thái “vật chất - sản phẩm” để trở thành đối tượng xác lập quan hệ sở hữu đầy đủ (như nguyên liệu chưa tạo nên thành phẩm; hoa lợi, lợi tức chưa đến kỳ thu hoạch; công trình đang xây dựng; đất đai đang làm cơ sở hạ tầng chưa nghiệm thu và bàn giao...), hoặc tài sản đã hình thành nhưng theo định chế pháp luật thể hiện trên giấy tờ, nội dung thỏa thuận, thì quyền sở hữu đối với vật ấy chưa được chuyển giao và xác lập đầy đủ cho chủ thể đang xét (như hàng hóa chưa nhập kho, tài sản mà theo hợp đồng chưa đến thời điểm chuyển giao hay người mua chưa hoàn tất việc sang tên, động sản vô chủ nhưng chưa hết thời hạn thông báo tìm chủ sở hữu...) nên chưa thuộc sở hữu đầy đủ của chủ thể nhưng trong tương lai chắc chắn nó sẽ thuộc sở hữu của họ.
3. Quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp có phải di sản thừa kế không?
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều 18). Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa (khoản 1 Điều 3). Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổchức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sởhữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh (khoản 4 Điều 4).
Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý (khoản 2 Điều 3). Như vậy, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp cũng là di sản thừa kế. Bởi lẽ, đây là những quyền nhân thân gắn với tài sản. Các quyền này có thể mua bán, tặng cho, chuyển nhượng, có nghĩa là đối tượng của giao dịch dân sự. Do đó, khi những người sở hữu những quyền này chết thì người đó để lại quyền, các lợi ích phát sinh từ việc sở hữu các quyền này. Đối với quyền sở hữu công nghiệp - một loại tài sản có tính đặc thù nên việc thừa kế cũng có những nét riêng. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, quyền sở hữu đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ thì được bảo hộ trong thời hạn văn bằng bảo hộ có hiệu lực (văn bằng có thể được gia hạn theo quy định của pháp luật). Do vậy, nếu trong thời hạn bảohộ mà chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp chết thì vẫn được để lại thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
4. Di sản là phần vốn góp trong doanh nghiệp
Đối với phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, theo quy định tại Điều 53 Luật doanh nghiệp năm 2020: “Trường hợp thành viên công ty là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên công ty. Trường hợp thành viên là cá nhân bị Tòa án tuyên bố mất tích thì quyền và nghĩa vụ của thành viên được thực hiện thông qua người quản lý tài sản của thành viên đó theo quy định của pháp luật về dân sự”. Trường hợp không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự. Đối với công ty cổ phần, khoản 3 Điều 127, Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổđông đó là cổ đông của công ty”. Như vậy, theo các quy định trên, người hưởng di sản thừa kế là phần vốn góp trong doanh nghiệp thì trở thành thành viên doanh nghiệp.
5. Quyền của người để lại di sản thừa kế
Khi lập di chúc người để lại di sản có quyền sau:
- Chỉ định người thừa kế: Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào.
- Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế: Quyền của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc họ có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật, mà không nhất thiết phải nêu lý do.
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế: Người lập di chúc có quyền phân chia một cách cụ thể di sản của mình cho người thừa kế. Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗi người, không nhất thiết phải ngang nhau mà không cần phải nêu lý do.
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng: Người lập di chúc có thể để lại một phần di sản vào việc thờ cúng hoặc để di tặng cho người khác. Phần di sản dùng vào việc di tặng, thờ cúng không được chia thừa kế.
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế: Theo sự chỉ định trong di chúc, người thừa kế phải thực hiện một công việc vì lợi ích vật chất của người khác mà đáng lẽ khi còn sống, người để lại di sản phải thực hiện như trả nợ, bồi thường thiệt hại... Tuy nhiên, người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di sản.
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản: Để tránh việc thất lạc, hư hỏng di chúc, cũng như để đảm bảo ý nguyện của mình không bị người khác xâm phạm, người lậpdi chúc có thể gửi di chúc ở cơ quan công chứng nhà nước hoặc bất kỳ người nào mà mình tin tưởng giữ bản di chúc. Đồng thời, để di sản của người lập di chúc để lại không bị mất mát, hư hỏng cần có người quản lý di sản. Tôn trọng ý chí của người lập di chúc nên trước hết người quản lý di sản phải là người được chỉđịnh trong di chúc, khi nào trong di chúc không xác định người quản lý di sản thì sẽ xác định người quản lý di sản.
6. Quy định pháp luật về di sản dùng vào thờ cúng?
Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.
Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.