1. Thế nào là tội phạm công nghệ cao?

Tội phạm công nghệ cao là loại tội phạm sử dụng các công nghệ cao để thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp được Luật Hình sự bảo vệ. Như thông qua internet, mạng viễn thông, mạng máy tính và các thiết bị số để thực hiện hành vi phạm tội.

Các hành vi được thực hiện như:

+ Xâm phạm dữ liệu hệ thống gây ảnh hưởng và thiệt hại đến người dùng.

+ Thực hiện các hành vi lừa đảo, trốn thuế,… để gây ra các mối đe dọa, làm sai lệch thông tin.

Những hành vi mà tội phạm công nghệ cao gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Không chỉ ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích của cá nhân, tập thể mà còn có nguy cơ xâm hại đến lợi ích của Nhà nước. Do đó sự nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm của hành vi là rất lớn.

Chính vì vậy nên hiện nay, loại tội phạm này được xếp vào nhóm tội phạm hình sự.

Hiện nay trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 chưa đưa ra khái niệm chính xác về vấn đề này. Cũng như chỉ liệt kê đối với các tội phạm cụ thể thuộc nhóm tội phạm công nghệ cao.

Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2014/NĐ-CP về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao có đưa ra cách hiểu tội phạm công nghệ cao như sau: Tội phạm có sử dụng công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự có sử dụng công nghệ cao.

Khi đó, tội phạm chỉ được mô tả với hành vi sử dụng các công nghệ cao. Do đó gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội trên thực tế.

Như vậy, có thể hiểu rằng, tội phạm công nghệ cao là tội phạm cố ý sử dụng tri thức, kiến thức, kỹ năng, công cụ và phương tiện công nghệ thông tin tác động trái pháp luật đến thông tin, dữ liệu, tín hiệu được lưu trữ, xử lý, truyền tải trong hệ thống mạng máy tính.

Họ có kiến thức và năng lực nhất định trong sử dụng công nghệ. Tuy nhiên lại sử dụng vào các mục đích vi phạm pháp luật, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.

Tội phạm sử dụng công nghệ cao không phải là một tội danh độc lập được quy định trong Bộ luật Hình sự mà đó là tổ hợp của những tội phạm sử dụng tri thức về công nghệ cao để xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Khi đó, các hành vi cụ thể sẽ cấu thành từng tội danh được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Ngày nay, các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và mạng viễn thông đã được quy định trong Bộ Luật Hình sự năm 2015, từ Điều 285 đến Điều 294.

Phân loại theo hướng này, tội phạm sử dụng công nghệ cao có thể được phân thành hai nhóm chính:

- Tội phạm liên quan đến sự sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, và mạng viễn thông với mục đích gây tổn hại đến tính bảo mật, tính toàn vẹn và khả dụng của hệ thống máy tính (từ Điều 285 đến Điều 289). Các hành vi này thường làm hỏng hoặc tác động trực tiếp đến thiết bị và hệ thống máy tính. Đây có thể bao gồm việc xâm nhập vào hệ thống để thực hiện các hành vi phạm tội cụ thể.

- Nhóm tội phạm sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, và mạng viễn thông như một công cụ hoặc phương tiện để thực hiện tội phạm (từ Điều 290 đến Điều 294). Trong trường hợp này, "công cụ" chỉ việc sử dụng máy tính hoặc thiết bị để tìm kiếm lợi ích trái pháp luật. Trong khi "phương tiện" mang đến các cách thức, điều kiện và cơ sở để thực hiện tội phạm.

>> Xem thêm: Đường dây nóng tố giác tội phạm Bộ Công an gọi số nào, ở đâu?

 

2. Địa điểm tố giác, tin báo tội phạm có sử dụng công nghệ cao

Để tạo sự minh bạch và chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, quy định về địa điểm tố giác và tin báo đã được nêu ra trong Điều 12 của Nghị định 25/2014/NĐ-CP. Theo đó:

- Cá nhân đều có trách nhiệm tố giác về các hành vi tội phạm và vi phạm pháp luật khác mà có sử dụng công nghệ cao. Người dân có thể tố giác trực tiếp với cơ quan Công an, hoặc Ủy ban nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn. Thậm chí, họ cũng có thể thông báo cho bất kỳ cơ quan, tổ chức nào mà họ tin rằng có thể giúp đỡ trong việc giải quyết vấn đề này.

- Nếu cơ quan hoặc tổ chức nào phát hiện hoặc nhận được thông tin tố giác về tội phạm sử dụng công nghệ cao, họ có trách nhiệm xử lý tình huống theo quyền thẩm quyền của họ. Nếu họ không có quyền xử lý hoặc cần sự can thiệp từ các cơ quan chuyên trách, họ sẽ phải thông báo ngay lập tức với Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan chuyên trách theo những quy định được đề ra trong pháp luật.

Như vậy, cá nhân không chỉ có khả năng tố giác về tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến công nghệ cao, mà còn có quyền gửi thông tin này đến các cơ quan thích hợp để được xử lý. Từ đó, việc tạo ra môi trường an toàn và tuân thủ pháp luật trong việc sử dụng công nghệ cao trở nên quan trọng và hiệu quả hơn.

 

3. Biện pháp tổ chức, đấu tranh chống tội phạm công nghệ cao của Cơ quan chuyên trách

Biện pháp tổ chức và đấu tranh chống lại các hành vi tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến công nghệ cao, như được quy định trong Điều 14 của Nghị định 25/2014/NĐ-CP, được xác định như sau:

Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật, Cơ quan chuyên trách có quyền thực hiện các biện pháp sau đây:

- Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật để thu thập thông tin, tài liệu, xác minh và làm rõ các hành vi tội phạm và vi phạm pháp luật khác liên quan đến công nghệ cao.

- Sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ để kiểm tra, giám sát, phát hiện, thu thập, phục hồi và phân tích thông tin, tài liệu và dữ liệu điện tử, nhằm hỗ trợ quá trình phát hiện, điều tra và xử lý các tội phạm và vi phạm pháp luật có liên quan đến công nghệ cao.

- Yêu cầu cá nhân, cơ quan và tổ chức cung cấp thông tin, tài liệu, đồ vật và phương tiện có liên quan đến các hành vi tội phạm và vi phạm pháp luật sử dụng công nghệ cao.

- Yêu cầu ngân hàng, tổ chức tín dụng cung cấp thông tin, tài liệu về hoạt động của tài khoản và thông tin khác, phục vụ quá trình phát hiện, điều tra và xử lý các tội phạm và vi phạm pháp luật sử dụng công nghệ cao theo quy định của pháp luật.

- Yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet sắp xếp mặt bằng, cổng kết nối và các điều kiện kỹ thuật cần thiết để Cơ quan chuyên trách triển khai các phương tiện, biện pháp kỹ thuật để kiểm tra, giám sát và thu thập dữ liệu điện tử.

- Yêu cầu doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghệ thông tin, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin cung cấp thông tin, tài liệu về hoạt động của chủ thuê bao và thông tin khác phục vụ công tác phát hiện, điều tra và xử lý các tội phạm và vi phạm pháp luật có sử dụng công nghệ cao.

- Trực tiếp hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet và doanh nghiệp viễn thông ngăn chặn, đình chỉ việc truy nhập hệ thống thiết bị, mạng lưới và dịch vụ.

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì và phối hợp cùng với Bộ Tư pháp để hướng dẫn cụ thể về dấu hiệu vi phạm pháp luật theo khoản 1 của Điều 14 Nghị định 25/2014/NĐ-CP.

Tổ chức và triển khai các biện pháp này là để đảm bảo an ninh, trật tự, và tuân thủ pháp luật trong việc sử dụng công nghệ cao, từ đó đối phó với các hành vi vi phạm và tội phạm có liên quan đến công nghệ cao một cách hiệu quả.

Bài viết liên quan: Tội phạm công nghệ cao là gì? Đặc điểm của tội phạm công nghệ cao 

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!