1. Doanh nghiệp tư nhân là gì ? 

Căn cứ vào điều 183 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp tư nhân được hiểu như sau:

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

2. Quy định chung về Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) do một cá nhân đứng ra thành lập và làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, ưu điểm của hình thức kinh doanh này là Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định về mọi vân đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, do đó tổ chức việc quản lý tương đối đơn giản, không có rủi ro xảy ra các khó khăn vì có ý kiên khác nhau giữa các thành viện như đối vơi Công ty TNHH hay Công ty cổ phần. Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN (Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020).

Nhưng trở ngại lớn nhất của loại hình kinh doanh này là Chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cá nhân ưên toàn bộ tài sản của mình về các khoản nỢ của doanh nghiệp. Do đỏ, nếu làm ăn thua lỗ thì không những cá nhân Chủ doanh nghiệp mà cả gia đình vợ con họ có thể lâm vào tình trạng khốn khó; Điều này chứng tỏ tại sao các Chủ DNTN thường không dám đầu tư lớn vào công cuộc kinh doanh, không có các quyết định táo bạo trong sản xuất. Thực tế DNTN phần lớn là các tổ chức kinh tế cỡ nhỏ không đem lại nhiều lợi lộc cho nền kinh tế quốc dân.

Luật Doanh nghiệp cho phép cá nhân được thành lập Công ty TNHH một thành viên nên việc thành lập DNTN không còn nhiều lợi ích như trước đây: một cá nhân có thể đứng ra thành lập một Công ty TNHH một thành viên, họ có toàn quyền điều hành công ty theo ý muôn trong khi trách nhiệm về tài sản của họ đốì với hoạt động của công ty chỉ giới hạn trong số vốn góp vào công ty. Rồi đây dạng Công ty TNHH một thành viên sẽ phát triển và dành vị trí của DNTN hiện nay.

Nhưng cái gì cũng có mặt ưái của nó: cho phép một cá nhân thắnh lập công ty của riêng mình tức là phá vỡ bản chất hợp đồng của công ty; thành lập công ty không cần phải có sự thoả thuận của ít nhất hai ý chí, mà có thể do hành vi đơn phương của một cá nhân. Sự hùn hiệp giữa nhiều người không còn là yếu tố cơ bản của công ty; lý thuyết theo đó pháp nhân là một thực tế không còn phù hợp nữa, pháp nhân chỉ còn là một kỹ thuật pháp lý thuần túy.

3. Thành lập doanh nghiệp

Theo Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21.12.1990, doanh nghiệp phải có vốh không thấp hơn vốn pháp định. Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 221-HĐBT ngày 23.07.1991 đã đưa ra một danh mục vốn pháp định của DNTN tùy ngành nghề kinh doanh: cơ khí từ 80.000.000đ đến 150.000.000đ; điện tử từ 40.000.000đ đến 80.000.000đ; dệt may 150.000.000đ... Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21.12.1990 đã được thay thê' bởi Luật Doanh nghiệp ngày 12.06.1999 và nay là Luật Doanh nghiệp 2005, theo đó DNTN không bắt buộc phải có vốh pháp định, vốn do Chủ doanh nghiệp tự khai.

Các điều kiện về hình thức và nội dung để thành lập DNTN cũng giống các điều kiện chung để thành lập công ty như đã trình bày trong phần trên: doanh nghiệp phải có trụ sở xác định; tên doanh nghiệp không vi phạm pháp luật và không trùng với tên của doanh nghiệp khác; mục đích của doanh nghiệp không thuộc các hoạt động bị câm...

Ở đây, chúng ta chỉ xét các điều kiện riêng cho DNTN:

- DNTN chỉ có một thành viên là Chủ doanh nghiệp nên không cần phải có Điều lệ.

- Chỉ có một thành viên, nếu có hai thành viên thì phải chọn hình thức công ty.

- Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính chính xác của vốn tự khai; phải khai báo tổng số vốn đầu tư nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác.

về thủ tục thành lập, Chủ doanh nghiệp phải lập hồ sơ đăng ký kinh doanh gồm có:

- Đơn đăng ký kinh doanh theo mẫu;

- Nếu kinh doanh các ngành nghề phải có chứng chỉ hành nghề thì phải có bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của Chủ doanh nghiệp hoặc Giám đốc quản lý doanh nghiệp;

- Nếu kinh doanh ngành nghề phải có vốn pháp định thì phải có xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền hoặc chứng chỉ hợp lệ chứng minh về số vốn của doanh nghiệp.

Hồ sơ gởi đến cơ quan đăng ký kinh doanh tình hoặc thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp có trụ sở. Doanh nghiệp được phép bắt đầu hoạt động sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp cũng phải bố cáo việc đăng ký kinh doanh như đối với các công ty.

4. Quản lý doanh nghiệp

Trên nguyên tắc, Chủ doanh nghiệp tự mình quản lý doanh nghiệp, tự quyết định và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Chủ doanh nghiệp có thể thuê một người khác là Giám đốc quản lý doanh nghiệp. Trên phương diện pháp lý Giám đốc chỉ là người làm thuê, Chủ doanh nghiệp tiếp tục phải chịu trách nhiệm về các cam kết của Giám đốc với người thứ ba. Tương quan giữa Chủ doanh nghiệp và Giám đốc là tương quan giữa người thuê lao động và người lao động, đây là một quan hệ thống thuộc theo đó Gỉám đốc phải tuân theo các chỉ thị của Chủ doanh nghiệp, nếu phạm lỗi thì phải bồi thường cho Chủ doanh nghiệp.

Chủ doanh nghiệp thuê giám đốc thì phải khai báo việc này với cơ quan đăng ký kinh doanh. Trong mọi trường hợp, Chủ doanh nghiệp vẫn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Trong quá trình kinh doanh, Chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình. Việc tăng hay giảm vốn không cần phải xin phép hoặc thông báo với ai cả mà chỉ cần được ghi chép đầy đủ trong sổ sách kế toán. Tuy nhiên, nếu giảm vốn đầu tư xuống tháp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì Chủ doanh nghiệp chỉ được làm việc này sau khi đã khai báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Hàng năm sau khi kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp phải gửi báo cáo tài chính cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế có thẩm quyền.

5. Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò khá quan trọng trong các hoạt động kinh tế đối ngoại "thời mở cửa", đặc biệt là trong lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam.

Hiện nay địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp năm 2020, từ Điều 188 đến Điều 192.

Điểu 188 Luật Doánh nghiệp năm 2020 nêu định nghĩa về doanh nghiệp tư nhân như sau: "Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.

Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Ngoài một số quy định về thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh, về điều kiện để thành lập doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân còn có một số đặc điểm riêng sau đây:

- Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm cá nhân đôì vái hoạt động của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh nhưng bản thân chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm vể hoạt động của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn trước Tòa án trong các tranh chấp và vụ kiện liên quan đến doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân.

-        Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.

Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh.

Ngoài những điều quy định cơ bản nêu trên Luật Doanh nghiệp năm 2020 còn quy định các trường hợp cho thuê doanh nghiệp và bán doanh nghiệp

-        Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyển cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình nhưng phải báo cáo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trưốc pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp. Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định trong hợp đồng cho thuê.

-        Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác. Chậm nhất 15 ngày trước ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người mua, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Thông báo phải nêu rõ tên, trụ sở của doanh nghiệp; tên, địa chỉ của người mua; tổng số’ nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp; tên, địa chỉ, số nợ và thời hạn thanh toán cho từng chủ nợ; hợp đồng lao động và các hợp đồng khác đã ký mà chưa thực hiện xong và cách thức giải quyết các hợp dồng đó.

Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác.

Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động.

Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Những quy định này tạo điểu kiện cho các doanh nghiệp tư nhân có thế linh hoạt hơn trong việc tham gia vào các hoạt động kinh tế trong nước nói chung và trong các hoạt động kinh tế đôì ngoại nói riêng.