1. Khái quát

Sự kết hợp giữa nhu cầu và sự theo đuổi việc thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp dẫn đến sự hình thành ý đồ phạm tội (tâm thế phạm tội). Đại đa số người phạm tội đều có tâm thế này, tức là họ sẵn sàng phạm tội khi có đối tượng khách quan và hoàn cảnh khách quan phù hợp. Khi đã có tâm thế phạm tội, điều cần quan tâm là đối tượng khách quan của hành vi phạm tội (con người và tài sản). Khi nhu cầu được nhận thức, gặp được đối tượng có khả năng thỏa mãn thì nó trở thành động cơ. Động cơ phạm tội bao giờ cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố: yếu tố kích thích (ý đồ phạm tội hay tâm thế phạm tội) và yếu tố điều chỉnh (lập trường, tư tưởng, quan niệm về đạo đức, ý thức pháp luật, chuẩn mực xã hội, v.v...). 
Nếu giữa hai yếu tố này có sự thống nhất với nhau thì nhanh chóng đi đến quyết định phạm tội. Trong trường hợp, hai yếu tố này có sự mâu thuẫn với nhau thì diễn ra quá trình đấu tranh động cơ. Đấu tranh động cơ, thực chất là sự suy tính, phân tích, so sánh, cân nhắc có nên tiến hành hành vi phạm tội hay không. Khi yếu tố kích thích vượt trội hơn yếu tố điều chỉnh thì hành vi phạm tôi sẽ xảy ra và ngược lại. Trong quá trình đấu tranh động cơ, một loạt các câu hỏi được đặt ra và được làm sáng tỏ. Chẳng hạn, tiến hành hành vi phạm tội sẽ được cái gì, mất mát gì, trong trường hợp xấu nhất sẽ bị phát giác, bị bắt thì điều gì sẽ xảy ra, v.v... Quá trình đấu tranh động cơ không chỉ diễn ra trong giai đoạn đầu của hành vi phạm tội mà nó còn diễn ra trong suốt quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Khi đã hình thành động cơ phạm tội thì họ dựa vào kế hoạch để đặt ra những mục đích hết sức cụ thể. Việc lực chọn mục đích hoàn toàn do động cơ quyết định, chi phối. Nói cách khác, người phạm tội lựa ra những phương án tối ưu phù hợp với điều kiện khách quan để thực hiện từng mục đích. Trong quá trình tiến hành hành vi phạm tội, họ luôn sử dụng những công cụ, phương tiện (do mục đích quyết định) để hỗ trợ.
Dựa vào cơ chế tâm lý của hành vi người. Tính đặc trưng của hành vi người là cơ chế phản ánh trước, tức là trước khi thực hiện một hành vi nào đó, thì chủ thể đã hình dung trước trong đầu toàn bộ kế hoạch, diễn biến của công việc và cả kết quả dự kiến của hành vi đó, việc thực hiện hành vi chỉ là quá trình hiện thực hóa mô hình tâm lý đã có trong đầu dưới sự chỉ đạo của toàn bộ cấu trúc tâm lý của họ, trong đó, quan trọng nhất là xu hướng nhân cách. Có nghĩa là bất cứ hành vi có ý thức nào của con người, cũng được chỉ đạo bởi tâm lý của họ mà cụ thể và trực tiếp là động cơ hoạt động được hợp bởi hệ thống nhu cầu, hứng thú, lý tưởng và tâm thế. Mỗi khi con người thực hiện hành vi nào đó, thì bao giờ cũng nhằm mục đích thỏa mãn một nhu cầu, hứng thú hoặc thực hiện một mục tiêu nào đó do lý tưởng hoặc tâm thế thúc đẩy (trừ những hành vi vô thức). Những yếu tố đó được hình thành và điều chỉnh chủ yếu do tác động của môi trường, trong đó, tác động giáo dục của gia đình và xã hội giữ vị trí chủ đạo. Nếu con người có được hệ thống nhu cầu, hứng thú lành mạnh, lý tưởng trong sáng và tâm thế tích cực làm cơ sở, thì họ thường xuyên có được hành vi hợp chuẩn. Ngược lại, nếu trong hệ thống các yếu tố hợp thành xu hướng nhân cách của cá nhân có một yếu tố tiêu cực nào đó lấn át, chi phối các yếu tố tích cực, cá nhân đó sẽ dễ dàng tiếp thu những tác động tiêu cực của môi trường để hình thành những nét tâm lý lệch lạc, dễ có hành vi lệch chuẩn, vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, để có hành vi tác động đến đối tượng cụ thể nào đó, còn phải có quá trình hình thành động cơ cụ thể - động cơ đó thường là sự kết hợp của xu hướng nhân cách với một ham muốn cụ thể xuất phát từ kích thích của chính đối tượng hoặc đại diện của đối tượng mà hành vi đó nhằm đến gây ra (kích thích đó có thể là giá trị của đối tượng hoặc một hành vi, đặc điểm có tín khiêu khích, kích động nào đó). Chẳng hạn, giá trị lớn của một đồ vật kích thích ham muốn chiếm đoạt.
Như vậy, để hình thành động cơ thúc đẩy hoạt động cụ thể nào đó, thì những yếu tố có trong môi trường sống của con người là nguồn gốc để tạo nên xu hướng nhân cách - nền tảng của phương hướng hành vi - còn kích thích phát ra từ đối tượng bị xâm hại là yếu tố quan trọng để xác định mục tiêu cụ thể, hoàn thiện động cơ của hành vi đó.
Sau khi hành vi đã được thực hiện - có thể thành công hoặc thất bại, bao giờ ở chủ thể cũng có những biểu hiện tâm lý không bình thường là hậu quả tâm lý của chính hành vi đó. Thông thường những biểu hiện tâm lý ở chủ thể sau hành động có thể diễn ra theo một trong hai chiều hướng:
Thứ nhất: là hướng phản ứng dương tính, ở chủ thể có thể xuất hiện tâm lý thỏa mãn, phấn kích, do đạt được mục tiêu của hành động hoặc tâm lý bực bội, tức giận do bị cản trở không thực hiện được hành vi trọn vẹn. Biểu hiện tâm lý này thường là kích thích, thúc đẩy chủ thể tích cực chuẩn bị cho những hành vi động loại tiếp theo, đối với những hành vi tiêu cực thì biểu hiện tâm lý này là nguy hiểm.
Thứ hai: là hướng phản ứng âm tính, ở chủ thể xuất hiện tâm lý lo sợ, hoảng loạn, đau khổ, ân hận, dằn vặt,v.v... do tác động của hậu quả hành vi, của dư luận xã hội và của hệ thống chuẩn mực xã hội. Biểu hiện tâm lý này thường là yếu tố ngăn trở chủ thể thực hiện những hành vi tương tự, nhưng đồng thời cũng có thể thúc đẩy họ thực hiện những hành vi tiêu cực khác như: tự sát, hoặc che giấu hành vi cũ bằng hành vi gây nguy hiểm khác cho xã hội.
Dù diễn ra theo chiều hướng nào, thì những biểu hiện tâm lý ở chủ thể sau khi thực hiện hành động cũng thường thúc đẩy đối tượng có những hành vi không bình thường, khác lạ với những biểu hiện thường ngày, những biểu hiện đó có ảnh hưởng không nhỏ đến những hành vi tiếp theo của họ.
Đối với hành vi phạm tội, cơ chế tâm lý của hành vi cũng không khác biệt về trình tự, nghĩa là cũng phải trải qua quá trình hình thành động cơ, đấu tranh động cơ trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong cùng điều kiện môi trường như nhau, những người có hành vi phạm tội thường là người có lăng kính lệch lạc (hệ thống quan điểm, quan niệm lệch lạc), do đó, dễ tiếp thu những tác động tiêu cực từ môi trường để hình thành tâm lý tiêu cực, nhưng trước khi thực hiện hành vi phạm tội, chủ thể cũng có một quá trình xem xét, đối chiếu với hệ thống chuẩn mực xã hội và những điều kiện khách quan, nên nhiều trường hợp tội phạm không xảy ra, mặc dù chủ thể đã có ý đồ phạm tội. Rõ ràng là tuy không thể tuyệt đối, nhưng hành vi của con người nói chung, hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội nói riêng có thể thúc đẩy hoặc điều chỉnh, ngăn chặn được bằng các tác động từ bên ngoài. Tuy nhiên, không phải tùy tiện, mà cần phải có những tác động phù hợp với từng đối tượng.

2. Diễn biến tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội

2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội

2.1.1 Hậu quả của hành vi phạm tội gây ra

Hậu quả của tội phạm là những thiệt hại về vật chất, tinh thần và các biến đổi khác nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra luôn là yếu tố quan trọng tác động đến trạng thái tâm lý của người phạm tội. 
Trên thực tế, nếu người phạm tội nhận thức được những thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra cho xã hội, mà những thiệt hại đó lại rất nghiêm trọng hoặc nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ, thì chính hậu quả của hành vi phạm tội sẽ ám ảnh rất nhiều trong đầu óc của người phạm tội và gây cho họ những cảm xúc lo lắng, bồn chồn, sợ hãi về trách nhiệm hình sự mà họ phải gánh chịu. Trạng thái của người phạm tội càng trở nên căng thẳng hơn khi họ thấy có nguy cơ bị phát giác, bị bắt. Ngược lại, nếu người phạm tội không nhận thức được thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra cho xã hội, thì trạng thái tâm lý không căng thẳng hoặc ít căng thẳng hơn.

2.1.2 Dư luận xã hội và hoạt động điều tra của cơ quan điều tra

Nếu như người phạm tội đã gây những hậu quả nguy hiểm cho xã hội và bị dư luận xã hội lên án gay gắt, đồng thời đòi hỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật phải tiến hành hoạt động điều tra tích cực bằng mọi cách để nhanh chóng tìm ra can phạm thì sẽ gây cho họ trạng thái tâm lý căng thẳng, lo sợ, phát giác, bị trừng trị. Ngược lại, nếu như hành vi phạm tội của người phạm tội không bị dư luận xã hội lên án gay gắt và hoạt động điều tra của cơ quan bảo vệ pháp luật không tiến hành một cách ráo riết thì họ có những trạng thái tâm lý ít căng thẳng hơn, thậm chí ở một số người phạm tội có trạng thái yên tâm hơn.

2.1.3 Tính chất của hành vi phạm tội

Tính chất phức tạp của quá trình thực hiện hành vi phạm tội có ảnh hưởng rất nhiều đến trạng thái tâm lý của người phạm tội. Bởi vì, nếu quá trình thực hiện hành vi phạm tội diễn ra khó khăn, đòi hỏi người phạm tội phải sử dụng nhiều sức lực và trí tuệ, phải vật lộn đối chọi với người bị hại thì sau đó trạng thái tâm lý của họ rất căng thẳng. Trong những trường hợp, phạm tội lần đầu hoặc phạm tội do hoàn cảnh hoặc hậu quả của tội phạm xảy ra là nằm ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội thì sau đó họ thường có trạng thái lo lắng, căng thẳng và bị dằn vặt nhiều hơn so với những trường hợp khác. Ngoài ra, tính chất cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm cũng ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý của người phạm tội. Trong các trường hợp đồng phạm, trạng thái tâm lý của người phạm tội thường xảy ra hai khả năng hoặc là trạng thái tâm lý căng thẳng hơn nếu họ cho rằng bí mật sẽ bị lộ từ những người cùng thực hiện tội phạm hoặc là trạng thái tâm lý yên tâm, khi họ cho rằng nếu mình bị bắt thì những người cùng thực hiện tội phạm với mình cũng bị bắt.

2.2 Diễn biến tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội

Người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội, dù là phạm tội lần đầu hay tái phạm đều có trạng thái tâm lý căng thẳng, luôn luôn lo lắng, bồn chồn, sợ hãi do bị ám ảnh bởi hành vi phạm tội mà họ đã gây ra và bởi ý nghĩ sẽ bị phát giác, bị bắt và sự trừng phạt có tính chất quy luật trong diễn biến tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trạng thái tâm lý đó của người phạm tội thường không được ổn định mà luôn vận động, biến đổi.
Việc thực hiện hành vi phạm tội trong đa số các trường hợp đều gắn liền với việc nhằm đạt tới kết quả đã định trước. Sau khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội, đã đạt được kết quả ở mức độ khác nhau so với dự kiến ban đầu thì thường có những thay đổi nhất định diễn ra trong tâm lý của họ, có thể diễn ra theo hai chiều hướng chủ yếu là thái độ ăn năn, hối hận hoặc thỏa mãn với kết quả đã đạt được.
Hình ảnh về kết quả đã đạt được có thể gây nên những cảm xúc nặng nề, ghê rợn cùng với sự ăn năn, hối hận ở người phạm tội. Một số người phạm tội mới bị đe dọa phát giác, bị trừng phạt mà đã có trạng thái tâm lý căng thẳng. Vì vậy, trong thời gian này người phạm tội thường có những hành vi không hợp với hoàn cảnh, giảm khả năng tự điều chỉnh, hay nghi ngờ, không nhanh nhạy, luôn trong trạng thái trầm uất, ủ rũ. Có nhiều người tìm đến những hoàn cảnh xúc động để lãng quên đi những gì đã xảy ra. Nhiều người phạm tội đã tự ra đầu thú trước cơ quan pháp luật.
Ngược lại, việc thỏa mãn với kết quả sẽ củng cố trong tâm lý của người phạm tội về hành vi phạm tội, tăng thêm ý thức đi ngược lại với lợi ích của xã hội. Trong trường hợp này, người phạm tội thường thận trọng xóa đi dấu vết của hành vi cũ và tích cực tìm ra mưu kế, lập kế hoạch cho những hành vi mới. Điều đáng lưu ý ở đây là những hành vi phạm tội mới thường được thực hiện một cách tàn nhẫn, trắng trợn, nguy hiểm hơn nhưng lại thiếu tính toán hơn.
Cũng có những trường hợp người phạm tội tự nguyện không thực hiện hành vi phạm tội đến cùng, tức là đã kịp thời dừng lại trước khi đạt kết quả đã dự định từ trước. Động cơ thúc đẩy người phạm tội không tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đến cùng có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như sợ bị pháp luật trừng phạt, cảm thông với nỗi đau, mất mát của người khác hoặc do sợ hãi, nhút nhát, v.v...

2.3 Một số phương thức nhằm giải tỏa trạng thái tâm lý căng thẳng của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi PT

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội luôn rơi vào trạng thái tâm lý căng thẳng. Chính trạng thái tâm lý này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và thể chất của người phạm tội. Do vậy, theo quy luật tâm lý, người phạm tội luôn muốn thoát khỏi trạng thái tâm lý căng thẳng bằng mọi cách. Để giải thoát trạng thái tâm lý này, người phạm tội thường sử dụng một số biện pháp sau:
Người phạm tội tìm mọi cách để che giấy hành vi phạm tội của mình, chống lại sự phát hiện của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đối với những người phạm tội chuyên nghiệp, tái phạm thì họ thường tạo ra dáng vẻ "bình thản", "bất cần", "phó mặc sự đời", và "ù lì" với mọi tác động. Đồng thời chuẩn bị cung cách khai báo nếu bị bắt.
Người phạm tội thay đổi nhịp sống khác với thường ngày như họ thường có biểu hiện tích cực không bình thường, mang tính bề ngoài (tham gia lao động tích cực, học tập chăm chỉ khác thường) hoặc họ dùng bia, rượu, ma túy để dìm mình vào trong trạng thái âm tính (trạng thái ức chế), từ đó gạt bỏ trạng thái tâm lý căng thẳng này. Đây là cách giải tỏa diễn ra rất đơn giản và có hiệu quả trong một thời gian nhất định, giải pháp này thường phổ biến ở người phạm tội. Tuy nhiên sau ức chế trạng thái tâm lý căng thẳng lại tiếp tục.
Người phạm tội lánh xa địa bàn nơi gây án và địa bàn đang diễn ra hoạt động điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Mặt khác, trong quan hệ với môi trường mới, công việc mới, quan hệ mới, v.v... làm xuất hiện ở tội phạm trạng thái tâm lý mới: vui vẻ, phấn khởi, do vậy, trạng thái này sẽ lấn dần tâm trạng lo lắng, sợ hãi trước đây.
Trong thực tế, không ít trường hợp, người phạm tội đã ra đầu thú trước cơ quan bảo vệ pháp luật và tìm cách khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê