1. Điều kiện, hồ sơ, thẩm quyền, lệ phí nuôi con nuôi ?

Chào luật sư, Tôi có tìm hiểu về vấn đề nhận nuôi con nuôi, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được rõ và thống nhất giữa các vấn đề. Nên luật sư hãy tư vấn một cách tổng quan nhất về vấn đề nuôi con nuôi, những việc tôi có thể làm để nhận nuôi con nuôi được không ạ ?
Xin trân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

Căn cứ quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010Nghị định 114/2016/NĐ-CP quy định về lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài:

Trong tình hình thực tế hiện nay, có rất nhiều cặp vợ chồng không có khả năng sinh con cùng với việc có con nhưng không có khả năng nuôi dưỡng hoặc họ tự từ bỏ quyền được làm cha, làm mẹ của mình do nhiều nguyên nhân không đáng có. Để giải quyết hai mặt vấn đề của xã hội, nên việc nhận nuôi con được phát sinh là điều tất yếu. Vậy làm thế nào để nhận con nuôi, không chỉ những cá nhân sống trong nước mà cả những cá nhân, gia đình người nước ngoài cũng muốn nhận nuôi con nuôi là người Việt Nam. Trước khi muốn nhận nuôi con nuôi thì bạn cần có các kiến thức cơ bản để nhận con nuôi. Để giải quyết kiến thức chung cho mọi người Công ty Luật Minh Khuê đưa ra những thông tin như sau:

* NHẬN NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC:

Thứ nhất, khi nhận nuôi con bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ:

- Hồ sơ của người nhận con nuôi:

+ Đơn xin nhận con nuôi

+ Bản sao hộ chiếu, chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế

+ Phiếu lý lịch tư pháp

+ Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân

+ Giấy khám sức khỏe ( cơ sở y tế cấp huyện trở lên cấp)

+ Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận nuôi thường trú ( trừ trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi)

- Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi:

+ Giấy khai sinh

+ Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp

+ 2 ảnh ( toàn thân, nhìn thẳng, không quá 6 tháng)

+ Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của tòa án tuyên bố cha đẻ, me đẻ của trẻ em đã chết đối với trẻ em mồ côi; Quyết định của tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; Quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu là con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất năng lực hành vi dân sự.

Thư hai, cơ quan giải quyết việc nuôi con nuôi: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi hoặc nơi thường trú của người nhận nuôi con nuôi.

Thứ ba, thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi:

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền sẽ giải quyết về việc nhận nuôi con nuôi.

Thứ tư, mức thu lệ phí khi nhận nuôi con nuôi trong nước: 400.000 đồng (Điều 6 Nghị định 114/2016/NĐ-CP)

Thứ năm, điều kiện để nhận nuôi con nuôi:

+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

+ Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên

+ Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

+ Có tư cách đạo đức tốt.

Thứ sáu, những người không được nhận con nuôi:

+ Đang bị hạn chế một số quyền với cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

+ Đang chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

+ Đang chấp hành hình phạt tù

+ Chưa được xóa án tích về một trong những tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

* NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI:

Thứ nhất, hồ sơ để nhận nuôi con nuôi:

- Hồ sơ của người nhận nuôi con nuôi ( 2 bộ ): ( ngoài các giấy tờ hồ sơ như trong nước thì cần thêm các giấy tờ sau)

+ Văn bản cho phép được nhận nuôi con nuôi ở Việt Nam

+ Bản điều tra về tâm lý, gia đình

+ Văn bản xác nhận về thu nhập và tài sản

- Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi ( 3 bộ):

+ Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em.

Thứ hai, thẩm quyền giải quyết vấn đề nuôi con nuôi: Sở Tư pháp nơi người được nhận làm con nuôi thường trú;

+ Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ của trẻ được nhận làm con nuôi và lấy ý kiến của của những người có quyền, lập thành văn bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ trong thời hạn 20 ngày. (đối với trẻ bị bỏ rơi cần có xác minh của Công an cấp tỉnh, cơ quan Công an sẽ phải lập biên bản xác minh trong 30 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp)

+ Bộ Tư pháp ( Cục Con nuôi) có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ của người nhận con nuôi trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.( Khi thẩm định hồ sơ, nếu xét thấy cần thiết, Cục con nuôi lấy ý kiến của chuyên gia tâm lý, y tế, gia đình, xã hội để xác định người nhận con nuôi có điều kiện tốt nhất để nhận nuôi con nuôi.( nhận con nuôi đích danh thì Bộ Tư pháp sẽ chuyển hồ sư cho Sở Tư pháp để trình báo lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, giải quyết.

Thứ ba, thời hạn giải quyết việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là trong 50 ngày kê từ ngày gửi hồ sơ của người được nhận làm con nuôi và người nhận nuôi con nuôi đến Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp.

Thứ tư, mức thu lệ phí khi nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

+ Trường hợp là Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận con nuôi Việt Nam là 9.000.000 đồng

+ Trường hợp là người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con là 4.500.000 đồng

+ Trường hợp là người nước ngoài cư trú ở khu vực biên giới của nước làng giềng nhận trẻ ở khu vực biên giới là 4.500.000 đồng.

* MỘT SỐ LƯU Ý KHI NHẬN TRẺ EM BỊ BỎ RƠI, MỒ CÔI, Ở CƠ SỞ NUÔI DƯỠNG:

+ Trẻ bị bỏ rơi:

- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em;

- Nếu có người nhận trẻ làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi xem xét, giải quyết theo quy định;

- Nếu không có người nhận nuôi trẻ thì lập hồ sơ đưa trẻ vào cơ sơ nuôi dưỡng.

+ Trẻ bị mồ côi:

- Người giám hộ, cha mẹ đẻ, người thân thích có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú;

- Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ, niêm yết và thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong thời hạn 60 ngày để tìm người nhận trẻ làm con nuôi

- Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ xem xét và giải quyết, nếu hết thời hạn thông báo và niêm yết, không có ai nhận nuôi trẻ thì Ủy ban nhân dân xã lập hồ sơ để đưa trẻ vào cơ sở nuôi dưỡng.

+ Trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng:

- Cơ sở nuôi dưỡng lập danh sách trẻ cần gia đình thay thế gửi Sở Tư pháp.

- Sở Tư pháp có trách nhiệm thông báo 3 lần liên tiếp trên báo viết va phương tiên thông tin đại chúng khác của tỉnh.

- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ thường trú sẽ giải quyết khi có người liên hệ nhận trẻ em làm con nuôi trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông báo; nếu hết thời hạn này không có người đến nhận trẻ thì Sở Tư pháp gửi danh sách đến Bộ Tư pháp.

- Bộ Tư pháp sẽ thông báo tìm người nhận nuôi trẻ trên trang cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục thay đổi tên trong giấy khai sinh ? Có thể đổi họ con riêng của vợ sang họ chồng hiện tại ?

2. Vấn đề nhận nuôi con nuôi thực tế ở Việt Nam ?

Theo chúng tôi, khi xây dựng Luật Nuôi con nuôi cần cân nhắc và có quy định cụ thể, hợp tình, hợp lý để giải quyết thỏa đáng những trường hợp nuôi con nuôi thực tế đã tồn tại trong quá khứ, nhằm bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi.

1. Nhận diện quan hệ nuôi con nuôi thực tế

1.1. Một số dạng nuôi con nuôi trong thực tế xã hội Việt Nam

Trong đời sống xã hội Việt Nam, việc nhận nuôi con nuôi đã tồn tại từ lâu, với nhiều lý do và mục đích khác nhau, nhưng lý do cơ bản, phổ biến nhất là vì lòng từ tâm, lòng thương người, muốn cưu mang, giúp đỡ những người rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Với quan niệm như vậy, việc nhận con nuôi, nhận cha mẹ nuôi đã được thực hiện khá rộng rãi trong đời sống nhân dân.

Với ý nghĩa là một quyền tự do dân sự của cá nhân, việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có thể được thực hiện theo những cách thức khác nhau, tuỳ theo sự lựa chọn của cá nhân trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Tuy nhiên có thể thấy, có hai cách thức xác lập quan hệ nuôi con nuôi trong thực tế. Đó là xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội và xác lập về mặt pháp lý.

Việc nhận nuôi con nuôi có thể được xác lập về mặt pháp lý, thông qua sự kiện đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với những trường hợp có đăng ký, giữa người nhận nuôi và con nuôi phát sinh quan hệ cha mẹ và con trước pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi được nhà nước công nhận và bảo vệ. Vấn đề này không nằm trong khuôn khổ phân tích của bài viết này. Trong phạm vi của bài viết này, chỉ xin bàn đến những dạng xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi trong thực tế mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trong thực tế đời sống tồn tại khá nhiều các trường hợp nhận con nuôi nhưng không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là những trường hợp xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội. Tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp nhận nuôi con nuôi không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều là nuôi con nuôi thực tế. Qua nghiên cứu cho thấy, trong thực tế đời sống xã hội Việt Nam, quan hệ nuôi con nuôi đã từng tồn tại một số dạng cơ bản sau:

- Nuôi con nuôi theo phong tục tập quán

- Nuôi con nuôi để khuếch trương quyền thế của gia đình

- Nuôi con nuôi để lấy phúc

- Nuôi con nuôi trên danh nghĩa

- Nuôi con nuôi thực tế.

Chúng tôi xin phân tích một số dạng hình thành quan hệ nuôi con nuôi trong thực tế mà không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để có cơ sở hiểu rõ hơn và phân biệt giữa nuôi con nuôi thực tế với các dạng quan hệ nuôi con nuôi khác trong thực tế đời sống.

* Nuôi con nuôi theo phong tục tập quán: việc nhận trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa làm con nuôi là một việc làm thiện, nhân đạo, là một phong tục tốt đẹp, thể hiện đạo lý của dân tộc và được xã hội ủng hộ. Trách nhiệm cứu người, cưu mang những người nghèo khổ, tàn tật nặng, mồ côi mà không có người thân thích để nương tựa cũng đã được phản ánh trong pháp luật nhà Lê qua bộ Quốc triều hình luật(1). Những quy định này của pháp luật đã có tác dụng nhất định trong việc khuyến khích nhận trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa làm con nuôi, nhận những người già neo đơn, “không thể tự mình mưu sống được” làm cha, mẹ nuôi trong đời sống cộng đồng ở xã hội Việt Nam.

Bên cạnh đó, ở một số vùng miền còn tồn tại tập tục nối nòi. Nối nòi là một tục lệ khá phổ biến, có tính chất đặc trưng của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc ở Trường Sơn Tây Nguyên, như dân tộc Ê Đê. Nối nòi được hiểu là sự thay thế người khác bằng một người trong họ hàng của người chết để tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân, nhằm duy trì dòng họ, nòi giống. Tập tục của người Ê Đê là: “gẫy rầm sàn thì phải thay, gẫy giát sàn thì phải thế, người này chết thì phải nối bằng một người khác”(2). Người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, nên việc nối nòi theo dòng họ mẹ, để dòng họ mẹ không bị tuyệt tự là một điều quan trọng. Vì vậy, quyền thừa kế cũng được xác định theo dòng họ mẹ (Điều 182, Điều 183, Điều 185 Luật Tục Ê Đê). Do đó trong trường hợp một người phụ nữ không có con thì “phải tìm nuôi lấy một đứa con của người chị hay của người em gái mình, không có đứa này thì phải tìm một đứa khác trong cùng một họ với mình” và khi đó người con được thừa kế mọi của cải của người phụ nữ để lại (Điều 106 Luật Tục Ê Đê). Theo tập quán mẫu hệ, nên trong những trường hợp này người ta thường nuôi một người con gái của chị, em gái cùng họ với người nuôi: “muốn nuôi một người con gái để làm giống, muốn nuôi một người con như chính mình đẻ ra để tránh mất giống tuyệt nòi…” (Điều 107 Luật Tục Ê Đê).

Người Mường, Thái, Dao, Thổ, Mông, Khơ Mú đều có phong tục nhận nuôi con nuôi. Đối với các gia đình dân tộc Mường, Thái mà không có con thì họ thường nhận một đứa con của người anh hay người em làm con nuôi và coi nó như con đẻ của mình(3). Người Chăm cũng thường nhận nuôi con nuôi là người trong tộc họ, nếu không có thì kiếm người ngoài tộc(4). Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, con gái út được hưởng tài sản thừa kế và có trách nhiệm quản lý tài sản để thờ cúng cha mẹ tổ tiên. Người Chăm có quan niệm rằng “phận của đàn ông là chiến đấu, phận của đàn bà là sinh nở”(5). Vì vậy, việc nuôi con nuôi là nhằm có người kế tục dòng họ mẹ. Điều này thường xảy ra tương tự đối với các dân tộc theo chế độ mẫu hệ ở Trường Sơn – Tây Nguyên(6). Như vậy, có thể nói, việc nhn các cháu trong họ (con anh, chị, em) làm con nuôi đã trở thành một phong tục tập quán tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Điều đó phù hợp với tâm lý của người Việt Nam là muốn đông con nhiều cháu, nên dù có con đẻ, họ vẫn “muốn nhận nhiều con nuôi từ những gia đình khác”(7).

Những quan hệ nuôi con nuôi theo phong tục tập quán như vậy có thể vì lợi ích của người nhận nuôi, của gia đình dòng họ người nhận nuôi nhiều hơn vì lợi ích của con nuôi. Các quan hệ nuôi con nuôi theo phong tục tập quán đã từng tồn tại từ lâu trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và hiện nay vẫn còn tồn tại. Những quan hệ nhận nuôi con nuôi này được xã hội, cộng đồng thừa nhận, các bên đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của quan hệ cha mẹ và con trên thực tế, mặc dù có thể không thực hiện việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

* Nuôi con nuôi để khuếch trương quyền thế của gia đình: Trong đời sống xã hội Việt Nam, việc nuôi con nuôi còn nhằm khuếch trương quyền thế của gia đình. Bởi vì theo quan niệm của xã hội Việt Nam, “tầm cỡ và sự giàu có của một gia đình gắn chặt với thế lực chính trị và xã hội”. Nhiều gia đình đã có con đẻ vẫn nhận nuôi con nuôi, vì muốn có “nhiều gia nhân và nhiều bà con họ hàng, cho nên họ có phong tục nuôi con nuôi lẫn nhau (không phân biệt con trai hay con gái) trong dòng họ của mình…”(8). Những đứa trẻ được nuôi có thể xuất thân từ những gia đình khá giả, có địa vị ngang hàng với gia đình nhận nuôi, nhưng phần lớn là trẻ sinh ra trong những gia đình nghèo. Việc nhận nuôi con nuôi như vậy thường diễn ra ở những gia đình trong giới cầm quyền, nhằm mục đich được hưởng một số lớn đất đai. Việc nhận nuôi những đứa trẻ từ các gia đình nghèo khổ còn nhằm mục đích có thêm nguồn nhân công mà không phải trả tiền. Những đứa trẻ này tuy được nhận làm con nuôi nhưng không có quyền lợi như con đẻ, “việc nuôi con nuôi kiểu này có tính chất một quan hệ họ hàng giả tưởng, mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi tương tự như giữa ông chủ và người tuỳ thuộc”(9). Việc nuôi con nuôi nhằm khuếch trương quyền thế của gia đình thường tồn tại trong các gia đình địa chủ phong kiến trước đây. Hiện nay việc nhận nuôi con nuôi để có thêm người giúp việc trong gia đình có thể vẫn tồn tại, nhưng việc nhận nuôi con nuôi chỉ có tính chất hình thức, không có giá trị pháp lý. Giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi cũng không tồn tại quan hệ cha mẹ và con trên thực tế.

* Nuôi con nuôi để lấy phúc: Trong thực tế đời sống, có không ít trường hợp vì mê tín mà người ta nhận nuôi một đứa trẻ, coi như con của mình để làm phúc, để có thể giảm bớt tai vạ, những điều không may mắn cho gia đình hoặc để vợ chồng có thể sinh được con của mình. Người được nhận nuôi có thể là bất cứ đứa trẻ nào, có thể là trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ con nhà nghèo đông con… Giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận nuôi có thể có quan hệ quen biết hoặc không quen biết… Người nhận nuôi đối xử với người con nuôi như con đẻ, nhưng việc nuôi con nuôi có thể không được sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

* Nuôi con nuôi trên danh nghĩa: đây là những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống. Nuôi con nuôi trên danh nghĩa là việc các bên nhận nhau là cha mẹ nuôi và con nuôi xuất phát từ tình cảm, nhưng không gắn với quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con, không nhằm mục đích hình thành quan hệ cha mẹ và con trong thực tế. Các bên có thể đối xử với nhau, gọi nhau là cha mẹ và con, nhưng không ràng buộc thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau trên thực tế. Hai bên thường không sống chung với nhau. Việc nuôi con nuôi này không phụ thuộc vào bất cứ điều kiện nào, mà chỉ tuỳ thuộc vào tình cảm, sự tự nguyện của các bên, phù hợp với cách ứng xử, chuẩn mực đạo đức chung của xã hội. Việc nuôi con nuôi này thường được thực hiện dưới hình thức thoả thuận bằng lời giữa các bên chủ thể. Quan hệ cha mẹ và con trong hình thức này thường chỉ tồn tại trên danh nghĩa, có ý nghĩa đối với hai bên chủ thể, mà không có ý nghĩa nhiều lắm đối với những người khác trong gia đình của hai bên, những người xung quanh và xã hội. Tuy nhiên, trong xã hội Việt Nam, hình thức nhận con nuôi hoặc nhận cha mẹ nuôi trên danh nghĩa thường hay xảy ra, vì người Việt Nam vốn có lối sống trọng tình, trọng nghĩa, hiếu đễ. Ví dụ: việc nhận những người già cả, không có khả năng lao động là cha nuôi, mẹ nuôi để chăm sóc, nuôi dưỡng; việc bạn bè của những đồng đội đã hy sinh trong chiến tranh nhận những người mẹ liệt sỹ làm mẹ nuôi; hoặc cho con làm con nuôi của những người có tài, có đức, giỏi giang… trên danh nghĩa để con cái có thể học được những phẩm chất tốt đẹp của họ… Hình thức nuôi con nuôi trên danh nghĩa thể hiện nét đẹp trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường, việc nuôi con nuôi trên danh nghĩa còn thể hiện sự chăm sóc, quan tâm của cộng đồng đối với những người nghèo khổ, già cả, trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Điều đó ít nhiều tạo điều kiện giúp đỡ họ bớt khó khăn, tạo niềm tin cho họ trong cuộc sống. Việc nhận nuôi con nuôi này chủ yếu hướng tới những giá trị đạo đức, tinh thần, nhưng không có giá trị pháp lý.

Những dạng quan hệ nuôi con nuôi trên đều có đặc điểm chung là không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên không phải các dạng quan hệ nuôi con nuôi đó đều là nuôi con nuôi thực tế. Để xác định quan hệ nuôi con nuôi nào là quan hệ nuôi con nuôi thực tế cần hiểu rõ bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế.

1.2. Khái niệm và bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế:

*Khái niệm nuôi con nuôi thực tế:

Nuôi con nuôi thực tế là hình thức nuôi con nuôi làm hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi. Việc nhận nuôi thoả mãn đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi, không trái với mục đích của việc nuôi con nuôi và đạo đức xã hội. Người con nuôi cùng sống trong gia đình cha mẹ nuôi. Giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi có mong muốn thiết lập quan hệ cha mẹ và con, đối xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con, đồng thời thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau để xây dựng một gia đình thật sự. Quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên đã được xác lập trong thực tế, được họ hàng và mọi người xung quanh công nhận. Việc nhận nuôi con nuôi có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc văn bản thoả thuận giữa hai bên gia đình, nhưng không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quan hệ nuôi con nuôi thực tế phải có đầy đủ các dấu hiệu sau:

- Về ý chí của các bên: Giữa người nhận nuôi và con nuôi có mong muốn thiết lập quan hệ cha mẹ và con, đã thật sự coi nhau như cha mẹ và con, đối xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con.

- Về chủ thể: người nhận nuôi và con nuôi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, như điều kiện về tuổi, tư cách đạo đức, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng…

- Về khách quan: các bên đã cùng chung sống với nhau, gắn bó, cư xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau. Quan hệ giữa cha mẹ và con giữa hai bên được họ hàng và mọi người xung quanh thừa nhận. Việc nuôi con nuôi là đúng mục đích, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Như vậy, chỉ khi một quan hệ nuôi con nuôi có đầy đủ các dấu hiệu trên thì mới được coi là nuôi con nuôi thực tế. Trước đây, trong thực tế giải quyết các tranh chấp về nuôi con nuôi, đặc biệt là những tranh chấp liên quan đến quyền thừa kế, tòa án cũng dựa vào những dấu hiệu trên để xem xét có hay không có quan hệ nuôi con nuôi thực tế. Khi được công nhận là quan hệ nuôi con nuôi thực tế thì giữa người nhận nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của quan hệ cha mẹ và con.

Trong các dạng quan hệ nuôi con nuôi đã tồn tại trong thực tiễn đời sống có quan hệ được coi là nuôi con nuôi thực tế, còn những quan hệ không có đủ các dấu hiệu trên thì không được công nhận là nuôi con nuôi thực tế. Để có cơ sở nhận biết quan hệ nuôi con nuôi thực tế cần xem xét bản chất của quan hệ này.

* Bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế:

Có thể nói, bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế là đã hình thành và tồn tại quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trong thực tế cuộc sống. Quan hệ cha mẹ và con đưc xác lập phù hợp với mong muốn, tình cảm của các bên và được thể hiện rõ ràng, công khai trong cuộc sống, nhưng chưa được công nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Để làm rõ bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế có thể phân biệt giữa quan hệ nuôi con nuôi thực tế với nuôi con nuôi danh nghĩa.

Có quan điểm cho rằng: “con nuôi thực tế cũng giống như con nuôi trên danh nghĩa, là sự thoả thuận miệng giữa hai gia đình về việc nuôi con nuôi mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, (có một số ít trường hợp có văn bản viết tay giữa hai gia đình). Tuy nhiên loại con nuôi này khác với con nuôi trên danh nghĩa là người con nuôi ở hẳn với cha mẹ nuôi và gắn bó với cha mẹ nuôi”(10).

Có thể nhận thấy quan hệ con nuôi thực tế và con nuôi danh nghĩa có dấu hiệu giống nhau là đều không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, song về bản chất của hai quan hệ là khác nhau. Theo chúng tôi, con nuôi thực tế là người được nhận làm con trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi, giữa người nuôi và người được nhận nuôi đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau, nhưng không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quan hệ nuôi con nuôi thực tế khác quan hệ con nuôi trên danh nghĩa ở những điểm sau:

Thứ nhất, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa là một quan hệ xã hội, không phải là một quan hệ pháp luật, không được pháp luật điều chỉnh. Ngược lại, con nuôi thực tế là một hiện tượng xã hội có thể được pháp luật điều chỉnh khi có những điều kiện nhất định, trong giai đoạn nhất định.

Thứ hai, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa không đòi hỏi phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi (như điều kiện về chủ thể giữa các bên…), nhưng quan hệ con nuôi thực tế chỉ có thể được công nhận có giá trị pháp lý khi tuân thủ đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi nhưng không đăng ký nuôi con nuôi.

Thứ ba, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa không tồn tại quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nhưng trong quan hệ con nuôi thực tế hai bên đã thực sự chung sống với nhau, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau.

Thứ tư, con nuôi trên danh nghĩa không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nhưng đối với con nuôi thực tế thì giữa cha mẹ nuôi và con nuôi vẫn có quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ và con theo luật định (khi được công nhận).

Trong thực tế đời sống có thể tồn tại nhiều dạng nuôi con nuôi mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như đã phân tích ở mục trên. Dựa trên những dấu hiệu bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế có thể phân biệt, xác định khi nào một quan hệ nuôi con nuôi không có đăng ký được công nhận là nuôi con nuôi thực tế. Chỉ khi được công nhận là quan hệ nuôi con nuôi thực tế thì giữa các bên chủ thể mới có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, về nguyên tắc, những quan hệ kiểu này không được công nhận về mặt pháp lý. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của các bên và có phần không phù hợp với thực tế khách quan của quan hệ nuôi con nuôi. Do đó, để bảo đảm quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi thực tế, nhà nước cần có những biện pháp mềm dẻo, linh hoạt để giải quyết một cách thiết thực, có hiệu quả vấn đề này trong thời gian gần nhất.

2. Pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi thực tế

Nuôi con nuôi thực tế là một hiện tượng khách quan luôn tồn tại trong đời sống xã hội ở nước ta. Tuy nhiên không phải lúc nào nhà nước cũng ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề này. Thông thường quan hệ nuôi con nuôi thực tế được điều chỉnh, giải quyết bằng các quy phạm đạo đức và phong tục tập quán. Nhà nước đã có sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ nuôi con nuôi thực tế qua một số văn bản pháp luật trong mỗi giai đoạn nhất định.

Luật HN&GĐ năm 1959 là đạo luật đầu tiên của nhà nước ta điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi. Trong Luật này, vấn đề nuôi con nuôi mới chỉ được quy định rất sơ sài bởi một điều luật (Điều 24). Theo quy định của điều luật này thì “việc nhận nuôi con nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở mơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch”. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 1959 không có quy định gì về các điều kiện của việc nuôi con nuôi.

Luật HN&GĐ năm 1986 quy định về nuôi con nuôi trong một chương riêng, với quy định về tuổi của người được nhận làm con nuôi, ý chí của các bên và “việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch”. Như vậy, Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 đều quy định việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch thì mới có giá trị pháp lý.

Với các quy định tại Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986 như trên đã dẫn đến cách hiểu là việc nuôi con nuôi chỉ cần cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch mà không bắt buộc phải đăng ký việc nuôi con nuôi như quy định tại Điều 72 Luật HN&GĐ năm 2000. Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi thì cách hiểu như vậy là chưa đúng với bản chất của việc đăng ký hộ tịch. Theo các văn bản pháp luật về đăng ký hộ tịch thì có thể hiểu đăng ký hộ tịch bao gồm hai việc gắn liền với nhau: đó là công nhận các sự kiện hộ tịch (hoặc còn gọi là xác nhận các sự kiện hộ tịch theo Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch, Điều 1 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005) và ghi các sự kiện đã được công nhận đó vào sổ hộ tịch. Điều này cũng được thể hiện rõ ràng trong Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/1/1961 và Thông tư số 05 –NV ngày 21/1/1961 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành Điều lệ đăng ký hộ tịch mới (mục D: Đăng ký và ghi chú việc nuôi con nuôi). Sự công nhận việc nuôi con nuôi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được thể hiện bằng Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi. Quyết định đó được trao cho các bên đương sự, là một loại giấy tờ hộ tịch và là chứng cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân. Đồng thời với việc ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi, việc nhận nuôi con nuôi phải được ghi vào sổ hộ tịch. Ghi vào sổ hộ tịch là việc xác nhận một sự kiện hộ tịch và lưu trữ những thông tin gắn liền với nhân thân của cá nhân vào sổ gốc, là cơ sở pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân. Những thông tin về việc nuôi con nuôi được ghi trong sổ hộ tịch (cụ thể là Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi) là cơ sở để cấp lại bản sao Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi khi Quyết định đó bị mất hoặc bị hư hỏng không thể sử dụng được. Bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị pháp lý như bản chính.

Như vậy, có thể nói, theo quy định của pháp luật, việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vảo sổ hộ tịch mới có giá trị pháp lý, thực chất đó chính là đăng ký việc nuôi con nuôi.

Tuy nhiên trong thực tế nhận nuôi con nuôi, vì nhiều lý do khác nhau mà việc này không được thực hiện. Nhiều trường hợp quan hệ nuôi con nuôi đã được thực hiện trên thực tế nhưng lại không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không được ghi vào sổ hộ tịch nên việc nuôi con nuôi không có giá trị pháp lý, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự.

Để giải quyết một cách hợp tình hợp lý, phù hợp với thực trạng khách quan của quan hệ nuôi con nuôi thực tế và bảo vệ được lợi ích chính đáng của các bên đương sự, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ năm 1986 (viết tắt là Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTP) quy định: “Những điều kiện về nuôi con nuôi đã được quy định trong các điều 34, 35, 36, và 37 nhưng trước khi Luật này được ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy, những việc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị pháp lý, trừ những trường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nuôi con nuôi (như: nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động hoặc để dùng con nuôi vào những hoạt động xấu xa, phạm pháp). Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưng việc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quả pháp lý do luật định”.

Theo quy định này thì nếu việc nuôi con nuôi được bắt đầu từ trước ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực (ngày 3 -1- 1987) mà chưa đăng ký, thì việc nuôi con nuôi vẫn có giá trị pháp lý do luật định trong khoảng thời gian luật HN&GĐ năm 1986 còn hiệu lực. Do đó, nếu xảy ra tranh chấp trong khoảng thời gian này thì quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi vẫn được công nhận, do việc áp dụng Luật HN&GĐ năm 1986 và Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTP. Tuy nhiên nếu sau khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực mà quan hệ nuôi con nuôi đó vẫn chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì sẽ không có giá trị pháp lý.

Ví dụ: Bà H nhận cháu T làm con nuôi từ năm 1982, lúc đó cháu 3 tuổi, nhưng không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chưa được ghi vào sổ hộ tịch. Bà H và cháu T đã sống trong tình cảm mẹ con đối với nhau, quan hệ mẹ con được mọi người xung quanh và họ hàng thừa nhận. Giả sử năm 1999 bà H chết, nếu có tranh chấp về thừa kế, thì T vẫn được công nhận là con nuôi thực tế của bà H nên được thừa kế tài sản của bà H theo quy định của Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTP. Nhưng nếu bà H chết năm 2002 thì vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn, vì theo Luật HN&GĐ năm 2000, T sẽ không được công nhận là con nuôi thực tế của bà H nữa nên không được thừa kế tài sản của bà H. Điều này là không phù hợp với thực tế khách quan và bản chất của quan hệ nuôi con nuôi, nên không đảm bảo được quyền lợi chính đáng của các bên đương sự.

Theo Điều 72 Luật HN&GĐ năm 2000, “việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào sổ hộ tịch”. Điều 17 Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27-3-2002 quy định: “Những trường hợp nhận nuôi con nuôi được xác lập trước ngày 01 tháng 01 năm 2001, ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật, mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng có đủ điều kiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và trên thực tế, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đã được xác lập, các bên đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, thì được pháp luật công nhận và được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký nuôi con nuôi. Nếu có tranh chấp liên quan đến việc xác định quan hệ giữa cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi thì do Toà án giải quyết”.

Như vậy, việc nuôi con nuôi thực tế chỉ được công nhận nếu việc nuôi con nuôi đó được xác lập giữa “công dân thuộc các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa” trước ngày 1/1/2001 nhưng chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với các trường hợp nuôi con nuôi phát sinh sau ngày 1/1/2001 giữa công dân các dân tộc thiểu số phải thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi theo Điều 16 của Nghị định số 32/2002/NĐ-CP. Như vậy, theo Luật HN&GĐ năm 2000, về nguyên tắc, những trường hợp nhận nuôi con nuôi diễn ra trước khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực (ngày 1/1/2001), dù là bao lâu đi nữa, cũng không được công nhận có giá trị pháp lý, nếu chưa được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, (trừ một số trường hợp ngoại lệ nhận nuôi con nuôi giữa đồng bào dân tộc thiểu số với nhau đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa). Đồng thời, mọi trường hợp nuôi con nuôi sau ngày 1/1/2001 mà không đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền đều không có giá trị pháp lý. Điều đó có nghĩa là sẽ không công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế sau khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực.

Có thể thấy, nếu áp dụng những quy định này một cách cứng nhắc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi, và không phù hợp với thực tế khách quan của quan hệ nuôi con nuôi. Bởi vì, có nhiều trường hợp, quan hệ nuôi con nuôi đã được xác lập trên thực tế, giữa hai bên đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau, việc nuôi con nuôi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, phù hợp với mục đích của việc nuôi con nuôi và đã tồn tại trong một thời gian dài, được mọi người công nhận, đến nay con nuôi có thể đã trên 15 tuổi, nên nếu các bên có nguyện vọng đăng ký việc nuôi con nuôi thì không có cơ sở để giải quyết, vì vậy quyền lợi của các bên không được bảo đảm. Trong những trường hợp này, khi có tranh chấp hoặc một sự kiện nào đó xảy ra, như có yêu cầu được hưởng di sản thừa kế của người chết là cha nuôi, mẹ nuôi… thì không có cơ sở để giải quyết. Do đó, theo chúng tôi, đối với những trường hợp này, nhà nước cần có biện pháp linh hoạt, mềm dẻo nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các bên, đồng thời phù hợp với thực tế khách quan của quan hệ nuôi con nuôi.

3. Giải pháp giải quyết tình trạng con nuôi thực tế hiện nay

Thực tế cho thấy hiện nay phát sinh khá nhiều yêu cầu giải quyết các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa người nhận nuôi con nuôi với người được nhận nuôi, mà việc nhận nuôi đó chưa được công nhận của cơ quan có thẩm quyền và chưa được ghi vào sổ hộ tịch, mặc dù quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên đã tồn tại trên thực tế trong thời gian dài, có khi hàng chục năm. Việc cần có một giải pháp có tính khả thi để giải quyết tình trạng này là một yêu cầu khách quan và cấp thiết, cần được pháp luật quan tâm điều chỉnh, đặc biệt khi Luật Nuôi con nuôi đang được xây dựng.

3.1. Phương hướng chung: Theo chúng tôi, giải quyết vấn đề con nuôi thực tế phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ cha mẹ và con phù hợp với thực tế và bản chất khách quan của quan hệ nuôi con nuôi.

Thứ hai, chỉ công nhận có quan hệ cha mẹ và con đối với những trường hợp nuôi con nuôi mà các bên chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi vào thời điểm bắt đầu xác lập quan hệ tương ứng với các quy định của pháp luật có hiệu lực tại thời điểm đó và các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau trên thực tế.

Thứ ba, chỉ công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ tư, chỉ công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế đối với những trường hợp quan hệ nuôi con nuôi bắt đầu trước khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực.

3.2. Giải pháp cụ thể: Trên cơ sở đó, giải quyết vấn đề nuôi con nuôi thực tế có thể được điều chỉnh bằng một văn bản pháp luật riêng biệt, có thể bằng Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật Nuôi con nuôi, tương tự như cách giải quyết đối với các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực. Có thể quy định cụ thể một số trường hợp sau:

- Trường hợp thứ nhất: Quan hệ nuôi con nuôi đã được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực, mà người nhận nuôi và con nuôi đáp ứng đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi theo quy định của luật HN&GĐ năm 1986, các bên đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau trên thực tế, quan hệ cha mẹ và con đã được mọi người thừa nhận và vẫn đang tồn tại trên thực tế, thì được công nhận có quan hệ cha mẹ và con theo quy định của pháp luật. Các bên có nguyện vọng đăng ký việc nuôi con nuôi thì được khuyến khích và giải quyết. Nếu các bên thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi thì quan hệ cha mẹ và con vẫn được công nhận từ khi bắt đầu chung sống.

- Trường hợp thứ hai: Quan hệ nuôi con nuôi được bắt đầu từ sau ngày 3/1/1987 (ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực) đến trước ngày 1/1/2001, trong đó người nhận nuôi và con nuôi đáp ứng đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi theo quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 tại thời điểm xác lập quan hệ, các bên đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau trên thực tế, quan hệ cha mẹ và con đã được mọi người thừa nhận và vẫn đang tồn tại trên thực tế, thì các bên có quyền được đăng ký việc nuôi con nuôi để hợp pháp hóa quan hệ nuôi con nuôi trong thời gian 2 năm, kể từ ngày văn bản riêng biệt điều chỉnh vấn đề này có hiệu lực, kể cả trong trường hợp con nuôi đã quá tuổi theo luật định. Nếu việc nuôi con nuôi được đăng ký trong thời hạn 2 năm đó thì quan hệ cha mẹ và con giữa các bên được công nhận kể từ khi bắt đầu xác lập. Nếu trong khoảng thời gian 2 năm các bên chưa thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi mà có tranh chấp thì quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi vẫn được công nhận. Nếu sau thời hạn 2 năm, các bên vẫn không thực hiện thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi thì khi có tranh chấp, quan hệ giữa hai bên không được công nhận là quan hệ cha mẹ và con.

- Trường hợp thứ ba: mọi quan hệ nuôi con nuôi bắt đầu từ ngày 1/1/2001 mà không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì đều không có giá trị pháp lý.

Theo chúng tôi, khi xây dựng Luật Nuôi con nuôi cần cân nhắc và có quy định cụ thể, hợp tình, hợp lý để giải quyết thỏa đáng những trường hợp nuôi con nuôi thực tế đã tồn tại trong quá khứ, nhằm bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi.

3.3. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi thực tế

Khi công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế, Nghị quyết của Quốc hội cần quy định cụ thể về hệ quả pháp lý sẽ phát sinh của việc nuôi con nuôi đó tương ứng mỗi hình thức nuôi con nuôi cụ thể.

Về nguyên tắc, việc lựa chọn theo hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn hay nuôi con nuôi đơn giản tùy thuộc vào ý chí của các bên chủ thể có quyền trong việc cho – nhận con nuôi. Trong trường hợp quan hệ nuôi con nuôi thực tế được công nhận mà người con nuôi đã có đủ khả năng thể hiện ý chí của mình, thì việc lựa chọn hình thức nuôi con nuôi cũng phải có sự thể hiện ý chí của người con nuôi. Ý chí lựa chọn hình thức nuôi con nuôi của các chủ thể được thể hiện công khai bằng văn bản khi thực hiện thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi.

Trên cơ sở ý chí của các bên chủ thể, hiệu lực của hình thức nuôi con nuôi đơn giản hay trọn vẹn được áp dụng kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi thực tế được công nhận.

Giải quyết vấn đề nuôi con nuôi thực tế là một vấn đề phức tạp, nhưng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, chi phối mạnh mẽ đến quyền, lợi ích của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi. Về mặt xã hội, giải quyết tốt vấn đề nuôi con nuôi thực tế còn góp phần củng cố những quan hệ xã hội tốt đẹp, thể hiện bản chất của nhà nước trong việc quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân, qua đó củng cố lòng tin của nhân dân vào pháp luật của nhà nước./.

(1) Xem Điều 294, Điều 295 Quốc triều hình luật

(2) Xem Điều 98, Điều 99 Luật tục Ê Đê (tập quán pháp), NXB Chính trị quốc gia, Hà nội 1996, tr.120 -121

(3) Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), Chuyên đề: Mối quan hệ giữa tập tục và pháp luật, tr.70

(4) Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), Chuyên đề: Mối quan hệ giữa tập tục và pháp luật, tr..101

(5)Trương Tiến Hưng (2004), “Mấy ý kiến về luật tục của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận về thừa kế”, Nhà nước và pháp luật, (8), tr. 28-32.

(6) Vũ Đình Lợi (1994), Gia đình và hôn nhân truyền thống ở các dân tộc Malayô – Pôlynêxia Trường Sơn – Tây Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 60-61

(7) Insun Yu, Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII- XVIII, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr.153.

(8) Insun Yu, s. đ. d, tr. 143

(9) Insun Yu, s. đ. d, tr. 143

(10) Vũ Ngọc Bình, Vấn đề con nuôi nước ngoài, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, tr.70

SOURCE: TẠP CHÍ DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT, SỐ CHUYÊN ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI, NĂM 2009

TS. GVC. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Thủ tục cải chính, thay đổi họ tên ? Cha mẹ nuôi có được thay đổi họ tên cho con nuôi không ?

3. Pháp luật có cho phép nhận con đẻ làm con nuôi không ?

Thưa luật sư,Tôi muốn hỏi: Bạn tôi sinh con, nhưng vì lý do học hành và công việc ngên bây giời vẫn chưa có giấy khai sinh cho cháu. Nhưng vì lý do cá nhân hôn nhân gia đình, giờ bạn tôi muốn nhận con đẻ làm con nuôi trên hình thức giấy tờ thì liệu có được không ?

Mong luật sư tư vấn, hỗ trợ.

Người hỏi: Van

Điều 13 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định:

"Điều 13. Các hành vi bị cấm

1. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em.

2. Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.

3. Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.

4. Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.

5. Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.

6. Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi.

7. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc."

Căn cứ vào điều 14 luật nuôi con nuôi 2010 về điều kiện của người nhận nuôi con nuôi.

"Điều 14. Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em".

Như vậy có thể thấy tại Điều 13 và khoản 2 điều 14 của luật nuôi con nuôi thì không có trường hợp là cấm bố mẹ đẻ không dược nhận con mình là con nuôi. Tuy nhiên, xét trên thực tế thì pháp luật không cần thiết phải đưa ra quy định này vì đã là con đẻ thì sẽ được pháp luật thừa nhận và có mối quan hệ huyết thống rồi, nên theo nguyên tắc, con đẻ đương nhiên sẽ là con và không cần phải làm thủ tục nhận nuôi con nuôi.
Nhưng đối với trường hợp của anh chị là con của anh chị chưa đươc pháp luật thừa nhận về mặt pháp lý là cháu là con đẻ của anh chị vì chưa làm được giấy khai sinh. Căn cứ theo mặt pháp lý anh chị có thể nhận cháu làm con nuôi nếu như cháu dưới 16 tuổi và vợ chồng anh chị cũng phải đáp ứng được các điều kiện luật định tại điều 14 luật nuôi con nuôi thi mới được xem xét để làm thủ tục nhận nuôi con nuôi.
Vậy anh có thể nhận con mình làm con nuôi nếu như về mặt pháp lý giữa cháu và vợ chồng anh chị chưa được pháp luật thừa nhận là mối quan hệ cha mẹ và con đẻ thông qua việc anh chị chưa làm giấy đăng ký khai sinh cho con và trong giấy chứng sinh không thể hiện quan hệ của bạn và con.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Con nuôi là gì ? Đăng ký nhận con nuôi như thế nào ? Điều kiện để người nước ngoài nhận con nuôi ?

4. Một số vấn đề về chấm dứt việc nuôi con nuôi ?

Luật hôn nhân gia đình Luật HN&GĐ năm 2000 chưa đưa ra khái niệm về chấm dứt việc nuôi con nuôi, vì vậy, có thể đưa ra khái niệm về chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau: Chấm dứt việc nuôi con nuôi là việc chấm dứt quan hệ giữa cha mẹ và con do Toà án quyết định theo yêu cầu các chủ thể mà pháp luật quy định.

1. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 76 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định những căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi sau:

- Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.

- Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;

- Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 của Luật này.

Sau đây, chúng tôi đi sâu phân tích từng căn cứ cụ thể:

a. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi số 1900.6162

Đối với căn cứ này, chúng tôi thấy cần đặt ra vấn đề cần giải quyết là:

Hành vi tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi của cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên phải đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Hay nói cách khác phải đảm bảo sự thống nhất giữa mặt chủ quan và khách quan của các chủ thể. Tuy nhiên, sự tự nguyện này có cần thiết từ hai bên chủ thể (có sự thoả thuận của cha mẹ nuôi và con nuôi) hay chỉ cần một bên chủ thể (hoặc bên cha mẹ nuôi hoặc bên con nuôi). Thậm chí về phía cha mẹ nuôi nếu một bên cha nuôi hoặc mẹ nuôi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn bên kia không đồng ý chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì có thể chấm dứt việc nuôi con nuôi không? Và chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với cả cha, mẹ nuôi hay chỉ với người muốn chấm dứt quan hệ đó?

Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định cụ thể về việc nếu là vợ chồng nhận nuôi con nuôi thì có bắt buộc có sự đồng ý của hai vợ chồng hay không, trước đó Nghị định số 83/CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ quy định nếu người nuôi con nuôi có vợ hoặc chồng thì trong đơn xin nhận nuôi phải có chữ kí của cả hai vợ chồng. Điều này dẫn đến cách hiểu là có thể cả hai vợ chồng nhận nuôi con nuôi và họ trở thành cha mẹ nuôi của đứa trẻ hoặc chỉ một bên vợ hoặc chồng muốn nhận nuôi con nuôi còn bên kia chỉ đồng ý cho vợ hoặc chồng mình nhận nuôi con nuôi và như vậy chỉ phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa đứa trẻ với một bên vợ hoặc chồng (là cha nuôi hoặc mẹ nuôi) còn người kia không đương nhiên trở thành mẹ nuôi hoặc cha nuôi của đứa trẻ mà chỉ có thể trở thành cha dượng hoặc mẹ kế của nó mà thôi. Từ sự phân tích trên đây, có thể nhận thấy, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi có thể xảy ra các trường hợp cụ thể là: Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi; chỉ cha nuôi hoặc mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn quan hệ nuôi con nuôi vẫn tồn tại giữa con nuôi và người còn lại hoặc đương nhiên chấm dứt quan hệ bố dượng mẹ kế với đứa trẻ.

Ví dụ 1: Ông A và bà B là vợ chồng nhận anh X là con nuôi. Khi đã thành niên vì thường xuyên mâu thuẫn với ông A là cha nuôi nên anh X và ông A đã tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn bà B và anh X vẫn tồn tại mối quan hệ nuôi con nuôi.

Ví dụ 2: Ông A và bà B là vợ chồng, bà B muốn nhận anh X làm con nuôi, ông A không muốn điều đó nhưng đồng ý cho vợ mình nhận anh X làm con nuôi. Ông A trở thành bố dượng của anh X. Sau đó bà B và anh X đã tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì quan hệ giữa ông A và anh X cũng chấm dứt.

Ngoài ra, nếu chỉ một bên chủ thể là cha nuôi, mẹ nuôi hoặc người con nuôi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì quan hệ nuôi con nuôi có được chấm dứt hay không? Tức là ở đây chỉ có sự tự nguyện của một bên chủ thể. Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhận nuôi con nuôi là nhằm gắn bó tình cảm giữa cha mẹ và con, nếu một bên nhận thấy không thể đạt được mục đích ấy và muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì nên chấm dứt mối quan hệ này. Điều này hoàn toàn hợp lý.

b. Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi

Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định về các tội danh này. Trong thực tế chúng ta gặp những trường hợp người con nuôi có hành vi ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi như đối xử tồi tệ; gây nên sự đau đớn về thể xác và tinh thần cho cha, mẹ nuôi. Cần lưu ý rằng chỉ trong trường hợp người con nuôi có hành vi vi phạm đối với cha mẹ nuôi thì mới được coi là căn cứ để chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Nếu hành vi vi phạm đối với người khác thì không được coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của người con đối với chỉ một bên cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì có coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với cả người kia không? Chúng tôi cho rằng đó cũng là căn cứ để chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Chính hành vi này đã phá vỡ mục đích của việc nuôi con nuôi, dẫn đến tình cảm của cha mẹ nuôi và con nuôi không còn nữa. Do đó, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi là hoàn toàn phù hợp.

c. Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 của Luật HN&GĐ năm 2000

Khoản 3 Điều 67 quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”.

Khoản 5 Điều 69 quy định: “Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa bị xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, đạo đức xã hội”.

Có thể nói đây là sự vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng của cha, mẹ nuôi. Việc pháp luật quy định đây là một căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi là nhằm đảm bảo quyền lợi cho người con nuôi, tách người con nuôi khỏi môi trường có nguy cơ sẽ ảnh hưởng đến nhân cách, lối sống, thể chất… của người con nuôi. Trong trường hợp này hành vi của cha mẹ nuôi được quy định tại khoản 3 Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 được coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khi hành vi đó được thực hiện với bất kể một người nào chứ không chỉ đối với người con nuôi. Điều này có là phù hợp với thực tế khách quan hay không? Khi cha, mẹ nuôi có hành vi vi phạm pháp luật đối với người khác liệu có phá vỡ mục đích của việc thiết lập quan hệ nuôi con nuôi hay không? Nếu chỉ hoặc cha nuôi hoặc mẹ nuôi có hành vi vi phạm thì chỉ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với người đó hay với cả người còn lại? Theo quan điểm của chúng tôi, chủ thể nào vi phạm thì coi là căn cứ áp dụng đối với chủ thể đó còn các chủ thể khác tuỳ từng trường hợp để xác định, căn cứ vào ý chí của họ có muốn tiếp tục quan hệ nuôi con nuôi hay không?

Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định các căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khá rõ ràng và cụ thể. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2000 không phân định rõ “chấm dứt nuôi con nuôi” và “huỷ nuôi con nuôi”, các văn bản hướng dẫn Luật HN&GĐ năm 2000 cũng không quy định cụ thể về vấn đề này. Chúng ta thấy rằng hai thuật ngữ này là khác nhau và hậu quả pháp lý của chúng cũng khác nhau. Chính vì vậy, cần có sự phân biệt hai thuật ngữ này để bảo vệ quyền lợi của các bên chủ thể cũng như đảm bảo đúng ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi.

+ Nếu việc nuôi con nuôi là hợp pháp (đảm bảo đúng mục đích luật định, các bên đáp ứng đầy đủ các điều kiện nuôi con nuôi, trình tự thủ tục luật định) nhưng trong quá trình nuôi con nuôi các bên có các hành vi được quy định tại Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 và có đơn của những người có quyền yêu cầu, toà án sẽ ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi.

+ Nếu việc nuôi con nuôi là trái pháp luật, tức là tại thời điểm xin xác lập quan hệ nuôi con nuôi các bên hoặc một trong hai bên đã vi phạm các điều kiện luật định (vi phạm các quy định tại các Điều 68,69,70,71 Luật HN&GĐ năm 2000) hoặc người xin nhận nuôi con nuôi với mục đích khác (khoản 3 Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2000). Trong trường hợp này buộc phải ra quyết định huỷ việc nuôi con nuôi trái pháp luật, coi như chưa bao giờ tồn tại quan hệ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.

Về vấn đề này, khi nghiên cứu hệ thống luật gia đình cũ, tác giả Vũ Văn Mẫu đã phân biệt hai hình thức: Sự truất bãi và sự tiêu huỷ. Theo tác giả, “… Sự truất bãi khác sự tiêu huỷ ở điểm các hiệu lực của sự truất bãi nghĩa dưỡng chỉ bắt đầu khi có bản án truất bãi nghĩa dưỡng; trái lại, sự tiêu huỷ có hiệu lực hồi tố và xoá hết các hiệu lực của sự nghĩa dưỡng đã xảy ra trong quá khứ như không hề bao giờ có sự nghĩa dưỡng giữa người con nuôi và người đứng nuôi….”(1).

Như vậy, xét ở mọi phương diện từ bản chất pháp lý, nguyên nhân, tính hiệu lực và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi và huỷ nuôi con nuôi là không thể đồng nhất. Chấm dứt nuôi con nuôi không có ý nghĩa là một chế tài. Còn huỷ nuôi con nuôi trái pháp luật là một chế tài đối với hành vi vi phạn mục đích và điều kiện nuôi con nuôi theo luật định. Vì vậy, các văn bản hướng dẫn cần phân biệt rõ hai thuật ngữ này để việc giải quyết các tranh chấp được chính xác.

2. Quyền yêu cầu toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 77 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

- Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ đẻ, người giám hộ của con nuôi, cha, mẹ, nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu toà án hoặc để nghị viện kiểm sát yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

- Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

- Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu toà án hoặc đề nghị viện kiểm sát yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000:

+ Uỷ ban bảo vệ chăm sóc trẻ em

+ Hội liên hiệp phụ nữ

- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị viện kiểm sát xem xét, yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

Như vậy, quyền yều cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi là khá rộng nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong mối quan hệ nuôi con nuôi, đặc biệt là người con nuôi.

3. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 78 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

- Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi cũng chấm dứt; nếu con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng.

- Trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích chia một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết.

- Khi việc nuôi con nuôi chấm dứt, theo yêu cầu của cha mẹ đẻ hoặc của người đã làm con nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.

Như chúng ta đã biết, khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập về nguyên tắc các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con sẽ phát sinh (Điều 74 Luật HN&GĐ năm 2000), bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Vậy, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi thì đương nhiên quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con cũng chấm dứt.

a. Quan hệ nhân thân

Các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con như nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con (Điều 34); nghĩa vụ và quyền của con (Điều 35); nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 36); nghĩa vụ và quyền giáo dục con (Điều 37); đại diện cho con (Điều 3, sẽ chấm dứt. Khi trở thành con nuôi người khác thì người con nuôi này có thể sẽ thay đổi họ tên của mình, do đó, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi người con nuôi có thể được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp người con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng. Trong thực tế, không phải bất kỳ trường hợp nào khi chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì người con nuôi đều có cá nhân hoặc tổ chức nhận nuôi dưỡng ngay, vì vậy, quyền lợi của đứa trẻ có thể bị ảnh hưởng. Hoặc đối với cha mẹ nuôi bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, già yếu… mà chưa có nơi nương tựa thì rõ ràng quyền lợi của họ cũng bị ảnh hưởng. Về vấn đề này, trước đây, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 1986 đã có hướng dẫn nếu người con nuôi chưa thành niên không có ai nuôi dưỡng thì sẽ không chấm dứt việc nuôi con nuôi, dù có đủ căn cứ chấm dứt, cho đến khi người con đó có người khác nuôi dưỡng hoặc người con nuôi đã thành niên có khả năng lao động. Quy định này là xuất phát từ việc bảo đảm quyền lợi của người con nuôi… Hiện nay, không có hướng dẫn về vấn đề này. Theo quan điểm của chúng tôi nên có hướng dẫn tương tự và để tránh xung đột giữa hai bên cha mẹ nuôi và con nuôi cũng như đảm bảo quyền lợi cho họ nên chăng nếu cha mẹ nuôi có hành vi quy định tại khoản 3 Điều 76 thì áp dụng hạn chế quyền của cha mẹ đôi với con, trong trường hợp này người cha, mẹ nuôi đó vẫn phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng đứa trẻ; nếu người con nuôi có hành vi quy định tại khoản 2 Điều 76 thì cha mẹ nuôi kết hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan áp dụng biện pháp giáo dục người con nuôi…. Như vậy, khi giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi cần thiết phải quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

b. Quan hệ tài sản

Các quyền và nghĩa vụ tài sản giữa cha mẹ và con như bồi thường thiệt hại do con gây ra (Điều 40); quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 60); quyền quản lý, định đoạt tài sản riêng của con (Điều 44,45,46) sẽ chấm dứt. Nếu con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó, nếu có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích chia một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận hoặc do toà án giải quyết./.

ThS. Nguyễn Thị Lan - Khoa Luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội - Nguồn: Tạp chí Luật học

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Mẫu tờ khai hoàn cảnh gia đình của người nhận con nuôi ? Quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi ?

5. Có được nhận con ruột làm con nuôi khi bố mẹ không đăng ký kết hôn ?

Bạn của tôi có quen một người con gái làm phục vụ bàn và mời cô ấy đi chơi sau đêm đó bạn tôi có đưa cho cô gái đó 1tr 500 ngàn rồi một tháng sau cô ấy kêu là có bầu và cô ấy sinh con. Trong khoảng thời gian có bầu bạn tôi vẫn đều đặn chở cô ấy đi khám thai. Và khi sinh con bạn tôi cũng gửi tiền để cô ấy sinh và hàng tháng vẫn gửi tiền cho cô ấy chăm con.
Khi con được 8 tháng thì bạn tôi đưa cô gái đó về quê có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký. Được hai tháng thì họ cãi nhau cô ấy đưa con về nhà mẹ đẻ. Và gia đình bên đó không cho bạn tôi gặp con nữa. Xin hỏi bây giờ bạn tôi muốn làm thủ tục nhận con và nuôi con được không. Vì cô ấy cũng có một đứa con ngoài giá thú 3 tuổi. Cô ấy không có công ăn việc làm ổn định hiện giờ cô ấy đang ở nhà mẹ đẻ. Mẹ cô ấy nuôi cả 3 mẹ con ?
Xin luật sư tư vấn!

Luật sư tư vấn:

1. Chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn thì thế nào ?

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn:

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn:

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Như vậy do hai bạn đã làm lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng; còn quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái vẫn phát sinh và tuân theo quy định của luật hôn nhân và gia đình.

2. Quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, theo như bạn trình bày thì hai bên có thể tự thỏa thuận quyền nuôi con. Trường hợp của bạn bạn, do con dưới 36 tháng tuổi nên mẹ có quyền được trực tiếp nuôi dưỡng nhưng nếu có thể chứng minh được người mẹ không có khả năng tự mình nuôi dưỡng con thì có thể thỏa thuận với người mẹ để nhận nuôi con hoặc nhờ Tòa án giải quyết.

3. Thủ tục ly hôn thuận tình và đơn phương thế nào ?

>> Ly hôn thuận tình

Bước 1: Bạn nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền; (Đi đến Tòa Án Nhân Dân nơi cư trú của đương sự vợ / chồng đang làm việc hay công tác nộp đơn ly hôn. Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết)

Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho bạn;

Bước 3: Bạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Bước 4: Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải.

Bước 5: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành không thay đổi quyết định về việc ly hôn. Nếu các bên không thay đổi ý kiến Tòa án ra quyết định công nhận ly hôn.

* VỀ ÁN PHÍ, LỆ PHÍ: Án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ nếu không có tranh chấp về tài sản

>>> Ly hôn đơn phương

– Bước 1: Bạn nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND có thẩm quyền; (Đi đến Tòa Án Nhân Dân nơi cư trú của đương sự vợ/ chồng đang làm việc hay công tác nộp đơn ly hôn. nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết)

– Bước 2: Nhận kết quả xử lý đơn;

– Bước 3: Bạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí đơn phương cho Tòa án;

– Bước 4: Tòa án sẽ triệu tập lấy lời khai, hòa giải và tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự;

– Bước 5: Trong trường hợp, Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn, người yêu cầu ly hôn có quyền kháng cáo để Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản giao nhận con nuôi mới nhất ? Thủ tục làm con nuôi cho người nước ngoài ?