Luật sư tư vấn:

1. Cơ sở pháp lý quy định đăng ký thường trú

- Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12 ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008;

- Công ước Lahaye 1930 về xung đột quốc tịch;

- Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW);

- Luật cư trú số 68/2020/QH14 ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2020;

 

1. Khi nào mất quốc tịch Việt Nam? Bảo hộ công dân Việt Nam?

Thưa luật sư, xin hỏi:  A mang quốc tịch Việt Nam, sau khi kết hôn với B mang quốc tịch Pháp, A đã nhập quốc tịch Pháp. Sau một năm chung sống, A và B ly hôn. A quyết định hồi hương, quay trở về làm ăn, sinh sống tại Việt Nam. Trên đường trở về Việt Nam tại sân bay Nội Bài, an ninh sân bay đã phát hiện trong hành lí của A có một khối lượng ma túy lớn. A bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ và đưa ra truy tố về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy với mức hình phạt là tử hình. Ngay sau đó, Pháp đưa ra yêu cầu bảo hộ công dân đối với A với lí do A là công dân Pháp. Tuy nhiên yêu cầu này đã được Việt Nam chấp nhận. Hãy cho biết:

- Việc kết hôn với B và nhập quốc tịch Pháp có đương nhiên làm mất quốc tịch Việt Nam của A không? Tại sao?

- Việc Việt Nam chấp nhận yêu cầu bảo hộ công dân của Pháp đối với A có phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam không? Tại sao?

Trả lời:

1.1 A đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam không?

Việc A kết hôn với B và nhập quốc tịch Pháp không đương nhiên làm mất quốc tịch Việt Nam của A. Lí do:

Thứ nhất, pháp luật của Pháp cụ thể là luật quốc tịch của nước họ không có quy định về việc đương nhiên mất quốc tịch khi vào quốc tịch mới.

Thứ hai, pháp luật Việt Nam có quy đinh về vấn đề người có hai quốc tịch cụ thể ở khoản 4 Điều 5 Luật Quốc tịch 2008 là: “ Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài được thực hiện theo pháp luật có liên quan.” tức là pháp luật nước ta công nhận công dân Việt Nam đồng thời có thể mang một quốc tịch khác và không có quy định vào quốc tịch mới sẽ đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam. Hơn nữa, pháp luật nước ta còn quy định cụ thể về việc đương nhiên mất quốc tịch xảy ra trong trường hợp Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 tại khoản 2 Điều 13 là :

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật quốc tịch Việt Nam có hiệu lực, phải đăng kí với cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam.”

Đối chiếu với tình huống trên A không phải đối tượng đương nhiên bị mất quốc tịch, bởi A mới kết hôn với B mới được một năm mà đã ly hôn và sau đó liền trở về Việt Nam.

Ngoài ra, nếu A là phụ nữ thì việc kết hôn sẽ không ảnh hưởng đến quốc tịch của A còn được quy định cụ thể trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Chẳng hạn: trong Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) tại khoản 1 Điều 9 quy định:

Các nước tham gia Công ước phải đảm bảo cho phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới trong việc nhập, thay đổi hay giữ nguyên quốc tịch của mình. Các nước phải đặc biệt đảm bảo rằng việc kết hôn với người nước ngoài, hay sự thay đổi quốc tịch của người chồng trong thời gian hôn nhân sẽ không mặc nhiên làm thay đổi quốc tịch của người vợ, làm cho người vợ trở thành người không có quốc tịch hay ép buộc người vợ phải lấy quốc tịch của chồng.”

Trong Công ước Lahaye 1930 có quy định việc người chồng có quốc tịch khác trong thời gian hôn nhân không làm thay đổi quốc tịch của người vợ, trừ khi được người vợ chấp chấp thuận.

Như vậy A vẫn còn quốc tịch Việt Nam khi kết hôn với B và nhập quốc tịch Pháp.

 

1.2 Công dân A được nước ta bảo hộ có phù hợp không?

Việc Việt Nam chấp nhận yêu cầu bảo hộ công dân của Pháp đối với A có phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Lí do:

Trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đã quy định cụ thể ở Điều 4 Công ước Lahaye 1930 xác lập nguyên tắc: một nước sẽ không được bảo hộ ngoại giao cho công dân của mình tại nước khác mà người này cũng có quốc tịch và đang cư trú. Đối chiếu với tình huống trên Pháp chỉ không được bảo hộ A nếu A cư trú (Khoản 1 Điều 12 Luật cư trú:

Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.”)

Trên lãnh thổ Việt Nam nhưng ở đây khi vừa tới sân bay Nội Bày thì A bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ và đưa ra truy tố về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.Vì vậy mà Pháp hoàn toàn có thể bảo hộ A và việc Việt Nam chấp thuận là phù hợp với luật quốc tế.

Trong pháp luật Việt Nam cụ thể tại khoản 1 Điều 12 Luật Quốc tịch 2008 có quy định:

Vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được giải quyết theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trường hợp chưa có điều ước quốc tế thì được giải quyết theo tập quán va thông lệ.”

Tức là trong tình huống trên sẽ giải quyết theo điều ước quốc tế bởi vậy mà phù hợp với luật quốc tế thì cũng sẽ phù hợp với luật quốc gia.

 

2. Điều kiện đăng ký thường trú bắt đầu từ 1/7/2021 có gì thay đổi?

Chào Công ty Luật Minh Khuê, hiện nay, tôi đang ở tỉnh và muốn chuyển hộ khẩu về Hà Nội. Ở Hà Nội, tôi đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mình. Nhưng tôi mới nghe nói rằng bắt đầu từ ngày mùng 01 tháng 07 năm 2021 bắt đầu có Luật cư trú mới, không cấp sổ hộ khẩu bằng giấy cho công dân nữa mà thay bằng quản lý nơi cư trú của công dân bằng cơ sở dữ liệu quốc gia và gắn với cả việc cấp thẻ căn cước công dân có gắn chíp nữa.

Xin hỏi công ty rằng, nếu bây giờ tôi làm thủ tục nhập khẩu về Hà Nội có được giải quyết không? Và những điều kiện trước kia khi đăng ký hộ khẩu thường trú ở Hà Nội thì hiện nay có còn không và thủ tục như thế nào?

Mong công ty sớm phản hồi giúp người dân, Cảm ơn công ty rất nhiều. ( Bình An)

 

Trả lời:

Hiện nay, Luật cư trú số 68/2020/QH14 ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2020 đã có hiệu lực pháp luật nên việc áp dụng văn bản luật này để đảm bảo quyền lợi cho người dân là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc chung, nên bạn có nhu cầu đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hà Nội thời điểm hiện tại vẫn có thể thực hiện được. Tuy nhiên, khi làm xong thủ tục sổ hộ khẩu cũ của bạn sẽ bị thu hồi nếu hộ khẩu cũ chỉ có một mình bạn.

Luật cư trú số 68/2020/QH14 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2021, đã quy định điều kiện đăng ký thường trú tại 63 tỉnh, thành phố là như nhau. Không còn quy định điều kiện khi nhập khẩu về Hà Nội hoặc thành phố trực thuộc trung ương khác cần đáp ứng thêm các điều kiện về thời hạn tạm trú hoặc điều kiện khác nữa. Để xác định trường hợp đăng ký thường trú của mình đã đủ điều kiện chưa và trình tự, thủ tục cần thực hiện thế nào, bạn có thể tham khảo nội dung phía dưới đây:

Đăng ký cư trú là việc thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo tạm vắng; thông báo lưu trú và khai báo thông tin, điều chỉnh thông tin về cư trú. Còn lưu trú là việc công dân ở lại một địa điểm không phải nơi thường trú hoặc nơi tạm trú trong thời gian ít hơn 30 ngày.

 

2.1 Điều kiện đăng ký thường trú:

Điều kiện để công dân có thể đăng ký thưởng trú tại một địa phương là Công dân có chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của mình tại tỉnh/thành phố muốn đăng ký thường trú.

Trường hợp này, công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp đó.

Lưu ý:

- Việc đăng ký thường trú của người chưa thành niên phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, trừ trường hợp nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định.

- Công dân không được đăng ký thường trú mới tại những chỗ ở sau:

+ Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn, chiếm hành lang bảo vệ quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng, khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật.

+ Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn, chiếm trái phép hoặc chỗ ở xây dựng trên diện tích đất không đủ điều kiện xây dựng theo quy định của pháp luật.

+ Chỗ ở đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích nhà ở đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Chỗ ở bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phương tiện được dùng làm nơi đăng ký thường trú đã bị xóa đăng ký phương tiện hoặc không có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

+ Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

(Trừ trường hợp Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con).

 

2.2 Hồ sơ đăng ký thường trú:

Đối với công dân có chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của mình và đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp đó thì hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

- Tờ khai thay đổi thông tin cư trú;

- Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc sở hữu chỗ ở hợp pháp.

Lưu ý chung:

- Trường hợp người đăng ký thường trú là người chưa thành niên thì trong tờ khai thay đổi thông tin cư trú phải ghi rõ ý kiến đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản.

- Trường hợp người đăng ký thường trú là người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt Nam thì trong hồ sơ đăng ký thường trú phải có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng; trường hợp không có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng thì phải có giấy tờ, tài liệu khác chứng minh có quốc tịch Việt Nam và văn bản đồng ý cho giải quyết thường trú của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh của Bộ Công an.

 

2.3 Thủ tục đăng ký thường trú từ ngày 01/7/2021

- Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình cư trú.

- Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú kiểm tra và cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người đăng ký; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì hướng dẫn người đăng ký bổ sung hồ sơ.

- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin về nơi thường trú mới của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đăng ký về việc đã cập nhật thông tin đăng ký thường trú; trường hợp từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

- Người đã đăng ký thường trú mà chuyển đến chỗ ở hợp pháp khác và đủ điều kiện đăng ký thường trú thì có trách nhiệm đăng ký thường trú tại nơi ở mới theo quy định của Luật này trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đủ điều kiện đăng ký.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!