1. Lai dắt tàu biển ?

Hiện nay thì hoạt động lai dắt tàu biển đang chiếm một vị trí không nhỏ trong hoạt động hàng hải của nước ta. Theo quy định tại Điều 256 của Bộ luật hàng hải năm 2015 thì lai dắt tàu biển là việc lai, kéo, đẩy hoặc túc trực bên cạnh tàu biển, các phương tiện nổi khác trên biển và trong vùng nước cảng biển bằng tàu lai. Lai dắt tàu biển bao gồm lai dắt trên biển và lai dắt hỗ trợ trong vùng nước cảng biển.

Hợp đồng lai dắt tàu biển giữa chủ tàu lai và bên thuê lai dắt được pháp luật quy định là hợp đồng được giao kết bằng văn bản, trừ trường hợp mà việc lai dắt hỗ trợ trong vùng nước cảng biển. Mức giá dịch vụ lai dắt tàu biển hiện nay sẽ do các bên tự thoả thuận với nhau, trừ trường hợp mà pháp luật có quy định khác.

Việc sử dụng tàu lai hỗ trợ khi tàu thuyền vào, rời và hoạt động tại cảng biển được thực hiện theo Điều 64 Nghị định 58/2017/NĐ-CP như sau:

+ Trường hợp khi điều động cập, rời cầu cảng, bến phao; cập mạn tàu thuyền khác; di chuyển vị trí, di chuyển trong luồng, quay trở trong phạm vi vùng nước trước cầu cảng, vùng nước bến phao, khu nước, vùng nước trong vùng nước cảng biển và khu vực quản lý của Cảng vụ hàng hải mà tàu thuyền có chiều dài từ 80m trở lên thì phải sử dụng tàu lai hỗ trợ theo quy định

+ Nội quy cảng biển cần phải có các quy định về số lượng, về công suất tàu lai hỗ trợ tàu thuyền, trường hợp phải sử dụng tàu lai căn cứ vào chiều dài lớn nhất, trọng tại, đặc tính của tàu, điều kiện thực tế tại khu vực, ý kiến của các tổ chức, cá nhân có liên quan

+ Thuyền trưởng của tàu thuyền có khả năng yêu cầu bổ sung số lượng tàu lai hoặc yêu cầu tàu lai có công suất lớn hơn khi cần thiết. Đây là vấn đề nằm trong quyền hạn của thuyền trưởng tàu thuyền mà pháp luật cho phép.

2. Kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển ?

Kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển là một ngành nghề kinh doanh mà theo pháp luật hiện hành thì đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Điều kiện kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển theo Nghị định 147/2018/NĐ-CP bao gồm những yếu tố sau đây :

- Chủ thể kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển là doanh nghiệp, là hợp tác xã kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển tại Việt Nam phải được thành lập theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật đề ra.

- Trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển, tỷ lệ phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 49% vốn điều lệ của doanh nghiệp. Có nghĩa là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải cùng góp vốn với đối tác Việt Nam để thành lập công ty và phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49% thì mới thành lập công ty dịch vụ lai dắt tàu biển được, đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì không được. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là bởi vì đây là lĩnh vực liên quan đến chủ quyền của một quốc gia nên cần phái có những hạn chế nhất định về tỷ lệ vốn góp.

- Được quyền sử dụng hợp pháp tối thiểu 01 tàu lai dắt; tàu lai dắt phải là tàu thuyền mang cờ quốc tịch Việt Nam và đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy chuẩn về kỹ thuật.

- Điều kiện đối với bộ máy tổ chức và nhân lực :

+ Phải đảm bảo có người chịu trách nhiệm kinh doanh, khai thác lai dắt tàu biển phải là người tốt nghiệp ở mức cao đẳng trở lên thuộc một trong các chuyên ngành hàng hải, ngoại thương, thương mại hoặc kinh tế và bảo đảm người chuyên trách pháp chế tốt nghiệp mức tối thiểu là cao đẳng thuộc chuyên ngành luật.

+ Thuyền viên phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về chuyên môn, tiêu chuẩn đảm bảo về sức khoẻ và được cấp chứng chỉ chuyên môn theo quy định thì mới đủ điều kiện làm việc trên tàu lai dắt.

+ Thuyền viên Việt Nam khi làm viêc trên tàu lai dắt phải đảm bảo các tiêu chuẩn về chuyên môn, được cấp chứng chỉ chuyên môn do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định và đáp ứng các tiêu chuẩn về sức khoẻ do Bộ trưởng Bộ Y Tế quy định

3. Điều kiện đối với tổ chức nước ngoài sử dụng tàu biển mang cờ quốc tịch nước ngoài để kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển tại Việt Nam

Pháp luật quy định về điều kiện đối với tổ chức nước ngoài sử dụng tàu biển mang cờ quốc tịch nước ngoài để kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển tại Việt Nam tại Điều 15 Nghị định 160/2016/NĐ-CP như sau :

Thứ nhất, tổ chức nước ngoài chỉ được sử dụng tàu biển mang cờ quốc tịch nước ngoài để kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển tại Việt Nam chỉ khi tàu lai dắt mang cờ quốc tịch Việt Nam không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Có nghĩa là trường hợp mà tàu lai dắt mang quốc tịch Việt Nam mà đáp ứng đủ được hết các điều kiện theo quy định pháp luật thì đương nhiên tổ chức nước ngoài sẽ không được sử dụng tàu biển mang cờ quốc tịch nước ngoài để kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển tại Việt Nam.

Thứ hai, tàu lai dắt mang cờ quốc tịch nước ngoài phải tuân thủ điều kiện về an toàn, an ninh hàng hải và bảo vệ môi trường theo pháp luật của Việt Nam. Điều kiện về an toàn, an ninh hàng hải và bảo vệ môi trường được quy định tại điều 105 của Bộ luật hàng hải năm 2015. Theo đó thì tại các vị trí cần thiết ven bờ biển, trên đảo, tại vùng nước có chướng ngại vật, công trình khác trên biển và vùng nước cảng biển mà tàu biển được phép hoạt động, phải thiết lập báo hiệu hàng hải theo quy định. Trường hợp tàu biển nước ngoài có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân, tàu vận chuyển chất phóng xạ chỉ được vào rong vùng nước cảng biển, nội thuỷ và lãnh hải của Việt Nam sau khi được Thủ tướng chính phủ cho phép. Ngoài ra, tổ chức mà hoạt động tại cảng biển và vùng biển Việt Nam phải chấp hành các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết về an toàn, an ninh hàng hải và bảo vệ môi trường.

Thứ ba, tổ chức nước ngoài cần phải có hợp đồng lai dắt với bên thuê lai dắt của Việt Nam. Sở dĩ cần phải có hợp đồng bởi đây là căn cứ pháp lý để đảm bảo được tối đa quyền lợi của các bên trong trường hợp không may có tranh chấp xảy ra. 

Thứ tư, tổ chức nước ngoài phải có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện hoặc doanh nghiệp lai dắt Việt Nam được uỷ quyền tại Việt Nam. Quy định này là vô cùng phù hợp trong công tác trao đổi, liên lạc, xử lý, giải quyết các tình huống cấp bách xảy ra mà cần có sự phối hợp và lấy ý kiến, quyết định của các bên hoặc là trong trường hợp cần xác lập giao dịch nào khác.

Thứ năm, thuyền viên làm việc trên tàu lai dắt phải có chứng chỉ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. Việc thuyền viên trên tàu lai dắt phải bắt buộc phải có chứng chỉ chuyên môn nghiệp vụ bởi vì hoạt động lai dắt tàu biển không chỉ quan trọng trong việc bảo quản mà còn phải cần nhiều yếu tố khác để đảm bảo tàu biển an toàn.

Trên đây là toàn bộ bài viết liên quan đến vấn đề Điều kiện đối với tổ chức nước ngoài sử dụng tàu biển mang cờ quốc tịch nước ngoài để kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển tại Việt Nam mà Luật Minh Khuê muốn gửi tới quý bạn đọc. Ngoài ra quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Kinh doanh dịch vụ lai dắt tàu biển cần điều kiện gì? để hiểu rõ hơn những thông tin liên quan. Nếu còn bất kỳ điều gì vướng mắc không hiểu về vấn đề này hoặc gặp bất kỳ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu trực tiếp đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp kịp thời. Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Trân trọng !