1. Có phải tất cả bản ghi âm, ghi hình đều được pháp luật bảo hộ không?

Không phải tất cả các bản ghi âm, ghi hình được tạo ra đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ.  Điều kiện để pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền đi kèm đối với bản ghi âm, ghi hình là đối tượng phải là âm thanh, hình ảnh của buổi biểu diễn hoặc của tổ chức, cá nhân biên tập lần đầu tiên âm thanh, hình ảnh đó. Người sản xuất bản ghi âm, ghi hình phải có quốc tịch Việt Nam. Nếu nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đáp ứng cả hai điều kiện trên thì pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với bản ghi âm, ghi hình đó.

Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện quyền: sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm hoặc ghi hình của họ; Nhập khẩu và phân phối tới công chúng bản gốc và bản sao của bản ghi âm và ghi hình bằng cách bán, cho thuê hoặc phân phối chúng thông qua bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào được cung cấp công khai. Nhà sản xuất bản ghi âm và ghi hình nhận được lợi ích vật chất từ ​​việc phân phối các bản ghi âm và ghi hình này tới công chúng.

Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại, tài trợ phát sóng, quảng cáo hoặc gây quỹ dưới mọi hình thức không cần xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, lệ phí cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn... nhà sản xuất tổ chức ghi âm, ghi hình, phát sóng kể từ ngày sử dụng. Như vậy, cơ quan phát thanh công cộng có trách nhiệm đàm phán và bồi thường cho các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.

Tuy nhiên, bản ghi âm, ghi hình không được bảo hộ vĩnh viễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố. Đồng thời, hành vi công bố, sản xuất và phân phối cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng được coi là xâm phạm tới quyền liên quan.

2. Lưu hành ghi âm, ghi hình biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại cần điều kiện gì?

Căn cứ theo quy định tại Nghị định 144/2020/NĐ-CP quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn như sau:

Điều kiện lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại:

- Là đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng biểu diễn nghệ thuật; tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh bản ghi âm, ghi hình theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện lưu chiểu theo quy định tại Điều 23 Nghị định 144/2020/NĐ-CP

Lưu chiểu bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại:

- Tổ chức, cá nhân nộp lưu chiểu ít nhất 10 ngày trước khi lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền như sau:

+ Bản ghi âm, ghi hình của tổ chức thuộc cơ quan Trung ương quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định này nộp đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

+ Bản ghi âm, ghi hình của tổ chức, cá nhân thuộc địa phương quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định này nộp đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Tiếp nhận lưu chiểu bản ghi âm, ghi hình:

+ Tổ chức, cá nhân gửi tờ khai nộp lưu chiểu (theo Mẫu số 12 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này) kèm theo 02 bản ghi âm, ghi hình bằng hình thức trực tiếp hoặc qua bưu chính hoặc trực tuyến đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời điểm nộp lưu chiểu bản ghi âm, ghi hình là thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận lưu chiểu bản ghi âm, ghi hình.

3. Quyền, nghĩa vụ của các bên lưu hành ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật

Căn cứ theo quy định tại Điều 7 Nghị định 144/2020/NĐ-CP quy định về quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật như sau:

Quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật

- Tổ chức, cá nhân lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật có quyền:

+ Lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật theo quy định của pháp luật;

+ Thụ hưởng các lợi ích hợp pháp từ việc lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật.

- Tổ chức, cá nhân lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật chịu trách nhiệm:

+ Không lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung vi phạm quy định tại Điều 3 Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

+ Thực hiện các quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan;

+ Thực hiện lưu chiểu theo quy định tại Nghị định 144/2020/NĐ-CP

Như vậy, khi lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật tổ chức, cá nhân có các quyền lợi như lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật theo quy định của pháp luật và thụ hưởng các lợi ích hợp pháp từ việc lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật.

Đồng thời tổ chức, cá nhân lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật có trách nhiệm không được lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung vi phạm pháp luật; đảm bảo quy định về quyền tác giả, quyền liên quan; Và thực hiện lưu chiểu.

4. Hình thức lưu hành bản ghi âm, ghi hình mang nội dung biểu diễn nghệ thuật

Căn cứ Điều 21 Nghị định 144/2020/NĐ-CP quy định về các hình thức lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật như sau:

- Lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật không nhằm mục đích thương mại do tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu chịu trách nhiệm.

- Lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại, thực hiện lưu chiểu theo quy định tại Điều 23 Nghị định này.

- Lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên hệ thống phát thanh, truyền hình và môi trường mạng do người đăng, phát chịu trách nhiệm.

Như vậy căn cứ theo quy định nêu trên, có 03 hình thức lưu hành bản ghi âm, ghi hình mang nội dung biểu diễn nghệ thuật sau:

- Lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật không nhằm mục đích thương mại do tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu chịu trách nhiệm.

- Lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại, thực hiện lưu chiểu theo quy định tại Điều 23 Nghị định này.

- Lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên hệ thống phát thanh, truyền hình và môi trường mạng do người đăng, phát chịu trách nhiệm.

Xem thêm: Mức phạt hành vi vi phạm quy định về lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung nghệ thuật biểu diễn

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Điều kiện lưu hành ghi âm, ghi hình biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại  mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!