1. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là quan hệ nuôi con nuôi mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Trong những năm qua, để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Việt Nam đã ký kết các hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với một số nước như : Cộng hoà Pháp (2000); Vương quốc Đan Mạch (2003); Cộng hoà I-ta-lia (2003); Ai - Len (2003); Vương quốc Thụy Điển (2004); Ca- na-đa (2005); Hoa Kỳ (2005); Cộng đồng nói tiếng Pháp Vương quốc Bỉ (2005); Cộng đồng nói tiếng Đức Vương quốc Bỉ (2005); Cộng đồng nói tiếng Hà Lan Vương quốc Bỉ (2005); Liên bang Thuỵ Sĩ (2005); Thoả thuận hợp tác nuôi con nuôi với Chính phủ Québec(2005)...

Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài gồm:

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận đích danh trẻ em Việt Nam làm con nuôi khi thuộc một trong các trường hợp:

(1) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;

(2) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

(3) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;

(4) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;

>> Xem thêm:  Hưởng chế độ thai sản khi nhận con nuôi ?

(5) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.

- Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.

- Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam.

2. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, tùy trường hợp mà người nhận con nuôi phải có điều kiện khác nhau.

- Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và các điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

- Đối với công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú.

3. Đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

>> Xem thêm:  Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện nuôi con nuôi ?

3.1 Thẩm quyền đăng ký

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi; ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi trong trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi.

Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài sau khi có quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài giữa công dân Việt Nam cư trú ở vùng biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở vùng biên giới với Việt Nam sau khi gửi hồ sơ của người nhận con nuôi và hồ sơ của trẻ em để xin ý kiến và được Sở Tư pháp đồng ý.

4. Giới thiệu trẻ em làm con nuôi

4.1 Căn cứ giới thiệu

Việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài được thực hiện vì lợi ích của trẻ em, có tính đến lợi ích của người nhận con nuôi trên cơ sở bảo đảm những yêu cầu cơ bản sau đây:

- Đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em;

- Khả năng hòa nhập và phát triển của trẻ em;

- Điều kiện kinh tế, môi trường gia đình, xã hội và nguyện vọng của người nhận con nuôi.

>> Xem thêm:  Cách yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi hợp pháp ?

4.2 Trình tự giới thiệu

Việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài được thực hiện theo trình tự sau:

a) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận con nuôi, Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi trên cơ sở bảo đảm các căn cứ theo Điều 35 của Luật Nuôi con nuôi và báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, nếu ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý thì thông báo cho Sở Tư pháp để làm thủ tục chuyển hồ sơ cho Bộ Tư pháp; trường hợp không đồng ý thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trước khi Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi hước ngoài, nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì người đó liên hệ với ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú để xem xét, giải quyết; nếu việc nhận con nuôi đã hoàn thành thì ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Sở Tư pháp để chấm dứt việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài.

b) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi, Bộ Tư pháp kiểm tra việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, nếu họp lệ thì lập bản đánh giá việc trẻ em Việt Nam đủ điều kiện được làm con nuôi nước ngoài và thông báo cho cơ quan có thẳm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú.

c) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú thông báo về sự đồng ý của người nhận con nuôi đối với trẻ em được giới thiệu, xác nhận trẻ em sẽ được nhập cảnh và thường trú tại nước mà trẻ em được nhận làm con nuôi, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp. Người nhận con nuôi không được có bất kỳ sự tiếp xúc nào với cha mẹ, người giám hộ hoặc cơ sở nuôi dưỡng trẻ em trước khi nhận được thông báo giới thiệu trẻ em làm con nuôi, trừ trường họp người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh.

d) Trường hợp người nhận con nuôi từ chối nhận trẻ em được giới thiệu làm con nuôi mà không có lý do chính đáng thì việc giải quyết hồ sơ xin nhận con nuôi của người đó chấm dứt.

đ) Căn cứ tình hình thực tiễn của địa phương, Sở Tư pháp trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy chế phối hợp liên ngành để tham mưu, tư vấn trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài bảo đảm chặt chẽ, khách quan, phù hợp với nhu cầu và lợi ích tốt nhất của trẻ em.

e) Sau khi giới thiệu trẻ em làm con nuôi, Sở Tư pháp báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho ý kiến. Trường hợp ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, thì trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý, Sở Tư pháp chuyển cho Cục Con nuôi 01 bộ hồ sơ của trẻ em kèm theo văn bản đồng ý của ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp không đồng ý với việc giới thiệu của Sở Tư pháp, thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo rõ lý do bằng văn bản để Sở Tư pháp tiến hành giới thiệu lại. Sau 03 tháng kể từ ngày ủy ban nhân dân tỉnh không đồng ý mà Sở Tư pháp không giới thiệu được thì Sở Tư pháp phải gửi trả lại hồ sơ của người nhận con nuôi cho Cục Con nuôi kèm theo văn bản nêu rõ lý do.

i) Trong khi kiểm tra kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi, Cục Con nuôi có thể lấy ý kiến của chuyên gia tâm lý, y tế, gia đình, xã hội để thẩm định kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi. Nếu trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi, việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi bảo đảm đúng trình tự, thù tục quy định và đáp ứng lợi ích tốt nhất của trẻ em, Cục Con nuôi thông báo bằng văn bản cho người nhận con nuôi. Trường hợp trẻ em không đủ điều kiện để cho làm con nuôi, việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi không bảo đảm đúng trình tự, thủ tục quy định và không đáp ứng lợi ích tổt nhất của trẻ em, thì Cục Con nuôi báo cáo Bộ trưởng Bộ Tư pháp để thông báo cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến pháp luật hôn nhân gia đình về nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục cho, nhận nuôi con nuôi trong nước năm 2021 ? Hồ sơ, giấy tờ cần chuẩn bị là gì ?

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu tờ khai hoàn cảnh gia đình của người nhận con nuôi ? Quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi ?