1.Định đoạt pháp lý.

Trên nguyên tắc, thân thể con người là vật nằm ngoài lưu thông. Không chỉ toàn bộ thân thể, mà từng bộ phận của cơ thể cũng thu hút sự quan tâm của người làm luật. Quyền hiến các bộ phận của cơ thể. Theo BLDS Điều 33, cá nhân có quyền hiến các bộ phận cơ thể của mình vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Bộ phận cơ thể trong điều luật phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, tức là không chỉ là các bộ phận ở thể rắn như tim, thận, gan,… mà còn có thể là các bộ phận ở thể lỏng như máu, tinh dịch,… "Hiến" hàm nghĩa rằng việc chuyển giao các bộ phận cơ thể không được đánh đổi bằng các lợi ích vật chất. Thông thường, một người vẫn tiếp tục sống sau khi hiến một bộ phận nào đó, thì phải được hưởng các biện pháp bồi dưỡng thích hợp để khôi phục tình trạng sức khoẻ ban đầu. Nhưng sự đánh đổi chỉ dừng lại ở đó: đi xa hơn, thì sẽ có những vụ chuyển nhượng trái phép các bộ phận cơ thể người. Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết. Theo BLDS Điều 34, cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Cho đến nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về các điều kiện hình thức và nội dung của giao dịch loại này. Thông thường, việc hiến nhằm mục đích nghiên cứu khoa học được ghi nhận trên một mẫu khai do tổ chức nghiên cứu khoa học lập sẵn và cung cấp miễn phí cho người có ý định hiến. Giá trị pháp lý của tờ khai hiến theo mẫu này không rõ ràng. Điều chắc chắn, nếu người hiến lại quyết định huỷ bỏ việc hiến bằng một di chúc, thì việc huỷ bỏ sẽ có giá trị. Thực tiễn cho thấy rằng việc hiến xác chỉ được thực hiện một cách suôn sẻ khi không chỉ ngườihiến mà cả gia đình của người này cũng đồng thuận về việc hiến. Nếu gia đình phản đối, tổ chức nhận hiến xác thường chọn con đường rút lui: cho đến nay, chưa thấy có tranh chấp tư pháp về việc một người hiến xác trong trường hợp bản thân người này không rút lại lời hứa của mình cho đến ngày chết, nhưng gia đình của người này lại không đồng ý.

2.Định đoạt vật chất

Khái niệm. Gọi là định đoạt vật chất đối với thân thể hành vi của chính người mang thân thể đó nhằm thủ tiêu sự tồn tại của toàn bộ hoặc một phần thân thể. Định đoạt toàn bộ hàm nghĩa rằng. gọi nôm na là tự sát; định đoạt một phần, còn được gọi là tự gây thương tích. Nguyên tắc. Thực ra chẳng có nguyên tắc nào chi phối hành vi của cá nhân nhằm tự thủ tiêu cuộc sống hoặc huỷ hoại một phần thân thể của mình. Nguyên tằc tự do suy nghĩ, tự do hành động. Trong khi đó, nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ trật tự công cộng chỉ đòi hỏi cá nhân không gây tác động xấu đến cuộc sống, sinh hoạt bình thường của người khác bằng hành vi của mình. Trường hợp đặc thù: quyền được chết của người bệnh nan y. Có những người mắc bệnh hiểm nghèo và nan y; khoa học hoặc trình độ tác nghiệp y khoa của người điều trị ở Việt Nam không cho phép đáp ứng yêu cầu chữa trị cho bệnh nhân. Vấn đề đặt ra trong trường hợp này là nếu bệnh nhân không muốn kéo dài cuộc sống đau khổ của mình, thì liệu họ có quyền buông xuôi để chết ? . Luật hiện hành không trả lời thẳng câu hỏi này. Người có trách nhiệm điều trị có thể bị cáo buộc về mặt hình sự nếu không điều trị bệnh nhân đến nơi đến chốn (BLHS Điều 102); tuy nhiên, việc quy trách nhiệm chỉ được thực hiện trong trường hợp bệnh nhân có thể được cứu chữa. Còn trong trường hợp chủ động giúp bệnh nhân được chết, người điều trị có thể phạm tội giúp người khác tự sát (BLHS Điều 101).

3. Quyền đối với sự toàn vẹn phẩm giá

Thiệt hại tinh thần. Theo BLDS Điều 37. danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. một người có thể bị xúc phạm dưới hình thức vu khống hoặc lăng nhục. Dù ở hình thức nào, việc xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín phải mang tính chất cố ý mới có thể bị chế tài: một câu nói sơ ý gây tổn thương chưa đủ để quy trách nhiệm về việc xúc phạm phẩm giá. Trách nhiệm có thể được quy kết về mặt hình sự và cả về mặt dân sự. Theo BLDS năm 2005, Điều, người bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín có quyền tự mình cải chính hoặc yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.

4.Quyền đối với bí mật của cuộc sống riêng tư

Khái niệm cuộc sống riêng tư. Có thể tạm định nghĩa cuộc sống riêng tư là tổng hợp các thông tin liên quan đến một cá nhân, được cá nhân đó nắm giữ và người nắm giữ có quyền chia sẻ hoặc không chia sẻ với người khác. Các thôpng tin ấy được gọi là các yếu tố của cuộc sống riêng tự. Cuộc sống riêng tự (còn được gọi là đời tư) của một người là những điều bí mật của người đò và việc bộc lộ các bí mật đó bởi một người khác mà không được sự đồng ý của người nắm giữ bí mật đó, là hành vi xâm phạm cuộc sống riêng tư. Các yếu tố của cuộc sống riêng tự rất đa dạng. BLDS năm 2005 ghi nhận những yếu tố chủ yếu, bao gồm thư tín, hình ảnh và tín ngưỡng, tôn giáo của một người.

Thư tín

Định nghĩa. Theo nghĩa cổ điển, thư tín là một văn bản chứa đựng các thông tin mà một người (gọi là người gửi) muốn chuyển cho một (hoặc nhiều) người khác (gọi là người nhận). Theo nghĩa rộng nhất, thư tín là bất kỳ thông tin nào được ghi nhận dưới một hình thức vật chất nhất định. Hình thức thư tín. Trong xã hội hiện đại, hình thức của thư tin rất đa dạng. Tuy nhiên, có thể ghi nhận bốn hình thức phổ biến nhất.

 1. Thư viết trên giấy. Đây là loại thư tín cổ điển. Thông tin được ghi nhận trên giấy có thể bằng chữ viết thông thường hoặc bằng một hệ thống ký hiệu quy ước giữa chủ thể gửi thông tin và chủ thể nhận thông tin (gọi là mật mã trong ngôn ngữ thông dụng).

2. Thư ghi vào băng từ, đĩa từ. Thông tin có thể được chứa đựng trong băng, đĩa từ dưới dạng chữ viết, tiếng nói, hình ảnh hoặc cả ba.

 3. Thư điện tử (email). Thư được soạn thảo trên máy vi tính và gửi từ một điạ chỉ điện tử đến một điạ chỉ điện tử khác, thông qua mạng internet.

 4. Nhắn tin qua điện thoại. Đây là việc để lại lời nhắn trên hộp thư thoại hoặc hộp tin nhắn của một số điện thoại. Lời nhắn trên hộp thư thoại tồn tại dưới dạng lời nói (lời độc thoại) được ghi âm; lời nhắn trên hộp tin nhắn được ghi nhận dưới dạng chữ viết hoặc các ký hiệu viết khác. Nhắn tin qua điện thoại cũng được coi là một loại thư tín, do lời nhắn, sau khi được ghi nhận, tồn tại độc lập với ký ức của người nhắn tin. Bí mật thư tín. là tình trạng không bộc lộ nội dung của thư tín cho người không phải là chủ thể nhận thông tin. Khái niệm bí mật thư tín chỉ được xây dựng cho trường hợp người gửi và người nhận đều là những chủ thể xác định: thư tín chỉ cần được giữ bí mật một khi được coi là một phần của cuộc sống riêng tư, tức là cuộc sống của một người được xác định. Bởi vậy, thư tín được gửi cho công chúng không cần được giữ bí mật. Việc bảo vệ bí mật thư tín được người làm luật XHCN Việt Nam quan tâm từ rất sớm, thể hiện trong các quy định tại Luật số 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957. Trong luật thực định, bí mật thư tín được bảo đảm bằng các biện pháp chế tài được ghi nhận trong luật dân sự và luật hình sự. Trong luật dân sự, việc chế tài đối với người xâm phạm bí mật thư tín được thực hiện theo chế độ chung về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng; việc chế tài hình sự đối với người xâm phạm bí mật thư tín được ghi nhận tại Điều 125 Bộ luật hình sự.

5.Hình ảnh

Khái niệm. Hình ảnh là sự phản ánh gương mặt hoặc thân xác của con người trên một phương tiện vật chất. Hình ảnh của một người có thể được ghi nhận trong nhiều tình huống và ở nhiều góc độ và do đó, rất đa dạng. Có thể kể ra: hình ảnh chân dung, hình ảnh sinh hoạt, hình ảnh làm việc, hình ảnh kỷ niệm du lịch,… Hình ảnh có hình thức thể hiện vật chất đa dạng. Trong quan niệm cổ điển, hình ảnh được ghi lại trên giấy; còn trong cuộc sống hiện tại, việc ghi nhận và lưu giữ hình ảnh có thể được thực hiện bằng các phương tiện điện tử. Quyền đối với hình ảnh. Trước tiên, cần xác định rằng quyền đối với việc ghi nhận hình ảnh của một người không nhất thiết là quyền riêng biệt của chính người đó. Khi một người cho phép người khác chụp ảnh mình, thì người cho phép không chuyển giao quyền ghi nhận hình ảnh của mình, mà chính người chụp ảnh thực hiện quyền chụp ảnh của họ. Quyền chụp ảnh là một trường hợp đặc thù của quyền tự do hành động. Việc một người, khi chụp ảnh một người khác, phải xin phép người được chụp ảnh trong những trường hợp đặc thù, thể hiện giới hạn đối với quyền chụp ảnh của chính người đó. Thực ra, người có hình ảnh cũng không được tự do sử dụng hình ảnh của mình. Ví dụ điển hình là việc sử dụng hình ảnh ghi nhận các sinh hoạt tình dục. Tất nhiên, luật không cấm (và không thể cấm) việc một người tự ghi hoặc nhờ người khác ghi các hình ảnh về những chuyện thầm kín của mình, trong đó có sinh hoạt tình dục. Thậm chí, luật cũng không thể cấm việc người có hình ảnh cho người khác xem những hình ảnh ấy. Thế nhưng, việc bộc lộ một cách có ý thức các hình ảnh loại này, nếu mang đầy đủ tính chất của việc kích thích sự tò mò không lành mạnh của nhiều người khác, sẽ có thể bị coi là việc truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ

Tiếng nói. Việc giao tiếp bằng lời nói có tác dụng chuyển những suy nghĩ của một người đến một hoặc nhiều người khác. Khác với thư tín, tiếng nói, một khi được phát đi, sẽ tan ra trong không khí chứ không được lưu lại và bảo tồn thông qua các phương tiện vật chất như giấy tờ, băng, đĩa,… Song, điều đó không có nghĩa rằng tiếng nói không phải là một đối tượng cần được bảo vệ trong khuôn khổ luật về các quyền nhân thân. Tiếng nói của một người là của riêng người đó: người này có quyền lưu giữ nó lại bằng cách ghi âm hoặc cho phép ghi âm. Việc người đối thoại ghi âm tiếng nói của người cùng đối thoại với mình không bị coi là bất hợp pháp; nhưng việc sử dụng, phổ biến lời nói đã được ghi âm mà không được sự đồng ý của người nói, có thể bị chế tài một khi việc đó gây thiệt hại cho người nói. Điều chắc chắn, việc ghi âm cuộc trao đổi lời nói giữa hai người do một người thứ ba thực hiện sẽ bị coi là bất hợp pháp, nếu ít nhất một trong hai người tham gia vào cuộc trao đổi ấy không đồng ý  . BLDS năm 2005 có ghi nhận điều cấm này, nhưng chỉ trong giả thiết cuộc trao đổi lời nói được thực hiện qua điện thoại.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)