Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

II. Nội dung

Thưa luật sư . Tôi có cho bạn tôi (B) mượn với số tiền là 107 triệu . Được chia ra làm nhiều đợt . Có viết giấy mượn tiền và kèm chứng minh thư photo . Nhưng đã tới thời gian hoàn trả tiền nhưng bạn tôi không trả và còn trốn tránh không chiệu gặp mặt . Liệu tôi có thể đêm giấy mượn tiền và chứng minh photo trình lên cơ quan chức năng để cơ quan chức năng xử lý được không thưa luật sư

BLDS 2005 quy định như sau:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc nhắn tin, gọi điện quấy rối đòi nợ của Home Credit có phạm luật ?

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, việc B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là trái quy định pháp luật, khi đó, bạn gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền . Ở đây là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015

" Điều 39. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

Và để đảm bảo đơn kiện được Tòa án chấp thuận và thụ lý bạn phải cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc xác định đã có quan hệ giao dịch vay tiền trên thực tế, các tài liệu chứng minh có việc vay tiền, nhận tiền giữa hai bên theo quy định tại điều 190 BLTTDS 2015. Giấy vay tiền là mọt trong những chứng cứ quan trọng bạn phải giao cho Tòa án trong trường hợp này.

Mẹ tôi có vay giùm cô L số tiền là 300tr để đáo hạn ngân hàng từ chỗ của cô A. Giấy vay ghi tên mẹ tôi và cô L có ghi giấy cho mẹ tôi đã nhận 300tr cua mẹ tôi để trả cho cô A nhưng giờ cô L không trả cho cô A. Giờ cô A dến đòi mẹ tôi. Giờ xử lý thế nào. Mỗi ngày cô A đến đòi tiền, gia đình tôi đang hoang mang. đòi tiền cô L thi cứ nói giờ không còn tiền. gia dinh tôi đang rất khó khăn. giải quýêt cô L thế nào

Theo quy định của pháp luật thì trong hợp đồng vay tiền với cô A, mẹ bạn là chủ thể vay, vì vậy, mẹ bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho cô A. Về việc số tiền vay đó để giúp cô L, thì mẹ bạn phải tiến hành đòi cô L thực hiện nghĩa vụ cho mình. Tuy nhiên, nghĩa vụ trả nợ của mẹ bạn và quyền đòi nợ cô L là hai việc tách biệt, không thể lồng ghép việc thực hiện nghĩa vụ khi thực hiện quyền được.Trong trường hợp này, vì gia đình bạn rất khó khăn, nên bạn cần đòi được tiền từ cô L để trả nợ cho cô A. Gia đình bạn có thể giái thích với cô A và thỏa thuận về việc gia hạn thêm thời gian để gia đình bạn có thể đòi được tiền từ cô L.

Về việc đòi tiền từ cô L: 

Theo quy định của pháp luật, sẽ có 02 con đường để có thể đòi lại được số tiền này, cụ thể như sau:

TH1: Theo như quy định tại Điều 121 BLDS 2005 thì: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự." Điều 401 cũng quy định như sau: "1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định." Như vậy, bên còn lại đã vi phạm pháp luật dân sự vì không thực hiên nghĩa vụ của mình theo như hợp đồng, cụ thể :

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác."

>> Xem thêm:  Thủ tục khởi kiện ra tòa để đòi nợ như thế nào ? Thi hành án đòi nợ bao lâu ?

Điều 522. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

Bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác;

Theo phương án này, bạn gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền . Ở đây là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

Khi cơ quan Tòa án tiến hành điều tra, bạn phải đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh thông tin mình cung cấp là đúng.

TH2. Theo quy định tại BLHS các đối tượng trên có thể bị truy tố về tội danh lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người khác tại Khoản 1 Điều 140 như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

>> Xem thêm:  Vay tiền có giấy viết tay, tin nhắn nợ tiền thì có khởi kiện để đòi nợ được không ?

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 1 BLHS 2009 quy định: "Sửa đổi cụm từ “một triệu đồng” thành cụm từ “bốn triệu đồng” tại khoản 1 và bỏ từ “trên” tại điểm d khoản 2 Điều 140;"

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Số tiền cho vay trong các trường hợp trên đều lớn hơn 2tr đồng, vì thế, đủ để cấu thành nên tội.

Theo quy định tại điều 101 BLTTHS 2003: “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”.
 
Sau khi gửi đơn tố giác, quyền và nghĩa vụ của bạn là cung cấp mọi thông tin đúng sự thật cho cơ quan điều tra nếu cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án theo đơn tố giác nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Sau khi xử lí về hình sự, tòa án sẽ giải quyết yêu cầu về mặt dân sự cho bạn.

xin hỏi vụ việc như sao: em chồng tôi có nhờ tôi hỏi tiền của mẹ chồng chỉ qua điện thoại, nhưng tôi đã làm biên nhận với mẹ chồng , khi mẹ chồng tôi đòi tiền tôi, tôi đòi lại em chồng tôi thì nói rằng là không có nhờ tôi hỏi tiền, trong khi tôi chỉ làm biên nhận tiền nhưng không có nhận tiền, vậy vụ việc này khi khi đưa ra tòa án sẽ giải quyết như thế nào. trong khi biên nhận tiền không đúng tên theo hộ khẩu: như biên nhận : là Nguyễn Thị Tình trong Hộ khẩu của bà là Nguyễn Thị Tín. như vậy thì tôi làm sao.xin nhơ luật sư tư vấn dùm cám ơn.

Trong trường hợp này, việc người biên nhận không đúng theo tên trong hộ khẩu và CMND của mẹ chồng bạn thì không đủ căn cứ để xác định người bạn nợ tiền là mẹ chồng bạn. Nếu như vụ án được khởi kiện ra Tòa thì bạn cần đưa ra được chứng cứ chứng minh em chồng bạn đã nhờ bạn hỏi vay tiền. Vì hai bạn nói chuyện qua điện thoại, nên cơ quan công an sẽ kiểm chứng được đoạn hội thoại này để chứng minh cho bạn. Vì vậy, nếu như thông tin bạn cung cấp là đúng sự thật, bạn hoàn toàn có thể an tâm, Tòa án sẽ bảo vệ quyền lợi cho bạn.

Luật sư cho tôi hỏi : Trường hợp giấy vay nợ viết tay, thỏa thuận giũa bên cho vay và bên vay là cuối tháng 1 trả tiền. Đến cuối tháng 1 bên vay k trả, bên cho vay cũng chưa đòi tiền.Nhưng đến cuối tháng 2 bên cho vay cần tiền, muốn lấy lại tiền vay thì tờ giấy vay đó còn giá trị pháp lý k ah. Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.

Điều 427 BLDS 2005 quy định như sau:

Điều 427. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.

Như vậy, cuối tháng 01 mà bên vay chưa trả tiền cho bạn, thì bạn vẫn có quyền đòi bên vay trả tiền cho mình. Nếu như bên vay không trả, thì trong vòng 02 năm kể từ cuối tháng 1, bạn có quyền khởi kiện lên tòa án để yêu cầu giải quyết.

>> Xem thêm:  Đòi nợ khi người vay tiền bỏ trốn ? Thủ tục khởi kiện ra tòa án để đòi nợ ?

Xin chào luật sư Năm 2013 em có đứng ra vay giúp người nha tổng số tiền 70triệu lãi 3000/triệu/ngày.Người nha em không trả được mà em phải đứng ra trả nhưng không được đúng hạn vi thế chủ nợ̣ lại cộng lãi thành gốc và viết giấy nợ mới yêu cầu em ký vào.Em đã̃ trả khoảng hơn 100 triệu nhưng họ vẫn yêu cầu em trả tiếp hơn 100 triệu nữa và tính lãi từng ngày.Em không có khả̉ năng trả nữa và rất lo họ sẽ dùng biện pháp mạnh để đòi tiền.Em xin được tư vấn

Trong trường hợp này, có thể thấy bạn đã đi vay nặng lãi, theo đó, bạn có thể tố giác hành vi phạm tội của bên cho vay như sau:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Trong trường hợp của bạ, bạn vay 70 triệu, với lãi suất 3.000đ/1 triệu/ngày, tính tổng tất cả là 210.000 đồng/ngày. tức lãi suất là 0.3%/ngày. Do đó, lãi suất 1 năm là

0.3(%) x 365(ngày) = 109.5%/năm

Theo đó, lãi suất bạn đi vay gấp lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định là 109.5% : 13,5 % = 8,1 lần

Như vậy, nếu có giấy tờ chứng minh về việc đóng lãi, bạn có thể khởi kiện lại tổ chức bạn vay nặng lãi ra tòa. Khi kiện ra tòa, nếu chứng minh được thì số tiền bạn phải trả cho họ sẽ bao gồm: số tiền đi vay + số tiền lãi theo lãi suất không quá 13,5%/năm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bạn sẽ tiến hành thủ tục đòi nợ từ người nhà của bạn theo cách thức đã được hướng dẫn ở trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

>> Xem thêm:  Thời hạn giải quyết đơn khởi kiện đòi nợ ? Có nên khởi kiện đòi nợ hay không ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận tư vấn Luật Dân sự - Công ty Luật Minh Khuê. 

>> Xem thêm:  Mẫu bản luận cứ bảo vệ vụ việc đòi nợ mới nhất năm 2020