1. Hành vi đánh ghen thì bị xử lý như thế nào ?

Chào Luật sư. Tháng 7 vừa rồi tôi mới phát hiện chồng tôi có đi lại với 1 người phụ nữ đã có chồng. Tôi có theo dõi, đến ngày 18/7 tôi đã bắt được tại trận hay người này trong nhà nghỉ.
Trong lúc nóng giận tôi đã xông đến giật tóc, đánh, tát người này. Hiện nay, người này đang nằm viện đã 10 ngày. Họ nói sẽ tố cáo tôi, vậy cho tôi hỏi. Trong trường hợp này liệu tôi sẽ bị xử lý như thế nào ?
Cảm ơn!

Trả lời

Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Như vậy, nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể của người phụ nữ kia trên 11% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp tại Khỏan 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 thì có thể bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 thì bạn có thể sẽ bị xử phạt hành chính với mức từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo quy định tại điểm e khỏan 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

.....3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:...

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

2. Trách nhiệm hình sự về hành vi đánh ghen?

Chào luật Minh Khuê, tôi có thắc mắc như sau: Em gái tôi có chồng ngoại tình.Nhiều lần mâu thuẫn em tôi dùng cồn đốt bồ của chồng dẫn đến bị bỏng nặng. Em tôi đang nuôi con nhỏ và đã chi trả chi phí nằm viện cho người bị hại. Vậy trong trường hợp này em tôi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào? Mức đền bù thiệt hại là bao nhiêu ?
Xin cảm ơn.

Hạ màn đánh ghen ? Mức án nào cho tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về trách nhiệm hình sự

Em gái bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Như vậy, em gái bạn cần xác định được tỷ lệ thương tật của người bị hại để hiểu rõ hơn về trách nhiệm hình sự phải chịu

Thứ hai, về vấn đề bồi thường thiệt hại

Mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe được xác định như sau

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

1.4. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm."

Như vậy, dựa trên căn cứ này, gia đình bạn có thể xác định mức bồi thường phù hợp cho người bị hại

3. Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác?

Dạ chào luật sư ạ. Nhờ luật sư tư vấn dùm em. Em bắt đầu làm tiếp thị cách đây 3 năm và có quen biết anh h. Tụi em chơi với nhau như anh em thân thiết chứ không có quan hệ gì mờ ám. Cách đây 2năm thì em có quan hệ yêu đương với một anh q làm chung và bị vợ anh ta ghen tuông đánh đập. Và em với anh q đã chấm dứt được 1 năm.

Trong thời gian này em và anh h vẫn chơi với nhau bình thường. Mới đây vợ của anh h rất ghen với em, nhắn tin chửi em thậm tệ nói em là quen anh h, rồi gia đình vợ anh h còn gọi điện đe dọa em mặc cho em và anh h giải thích làkhông có gì ngoài tình bạn bè anh em. Và vợ anh h không có bằng chứng chứng tỏ em và anh h quen nhau mà chỉ nghe người khác nói. Theo lời vợ anh h nóithì người mà nói em với anh h quen nhau là vợ anh q lúc trước em quen. Luật sư cho em hỏi nếu quá khứ em đã từng mắc sai lầm như vậy thì bây giờ em có kiện được người vợ của anh h không ?

Em mong được luật sư hồi đáp ạ. Chân thành cảm ơn luật sư.

- Trúc Mai Nguyễn

Trả lời:

Những hành vi bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người khác một cách nghiêm trọng nói trên có thể cấu thành “tội làm nhục người khác” ” và “tội vu khống” theo quy định tại Điều 121, Điều 122 Bộ luật hình sự năm 2015:

Cụ thể, các điều luật này quy định như sau:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

- Phạm tội nhiều lần;

- Đối với nhiều người;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

- Đối với người thi hành công vụ;

- Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Điều 122. Tội vu khống có nội dung:

Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

- Có tổ chức;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

- Đối với nhiều người;

- Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

- Đối với người thi hành công vụ;

- Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Tóm lại, tùy theo tính chất, mức độ của hình vi gì vợ của anh h đã thực hiện mà nhẹ thì bị xử phạt vi phạm hành chính, nặng thì có thể bị khởi tố vụ án hình sự.

4. Đánh ghen lột đồ có bị xử lý hình sự

Vừa qua, tôi có bắt gặp chồng tôi có ngoại tình với A. Sau đó, do không thể kìm chế cơn giận, tôi đã gọi người đi đánh ghen A. Chúng tôi đã tiến hành giữ, chửi bới, bêu rếu A với những người xung quanh và lột đồ A giữa đám đông để làm A nhục nhã. Sau đó, A có dọa tôi sẽ gửi đơn lên công an để xử lý hình sự. Vậy cho tôi hỏi hành vi của tôi có thể bị xử lý hình sự không? Tôi phải làm gì trong trường hợp này.

Trả lời

Tội làm nhục người khác

Điều 155 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định:

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy, để xác định có thuộc trường hợp này không, cần xem xét đến hành vi của người phạm tội. Người phạm tội có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Vậy như thế nào là xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm người khác. Điều này cần căn cứ vào hành vi và mức độ xúc phạm của người người có hành vi làm nhục.

Ngoài ra còn căn cứ trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội,… Dư luận xã hội cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của bị hại bị xâm phạm tới mức nào.

Khởi tố theo yêu cầu bị hại

Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Như vậy, theo điều này, tội làm nhục người khác nếu không có tình tiết tăng nặng tức là theo quy định tại khoản 1 Điều 155 thì chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Nếu đã có yêu cầu, người yêu cầu lại rút đơn yêu cầu tự nguyện thì vụ án phải được đình chỉ.

Đối chiếu với trường hợp của anh chị

Đối chiếu với trường hợp của chị, xét thấy hành vi chửi bới, bêu rếu A với những người xung quanh và lột đồ A giữa đám đông đã xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của A. Do đó, trả lời cho câu hỏi đánh ghen có bị xử lý hình sự? Hành vi đánh gen này của chị có thể bị xử lý hình sự theo khoản 1 Điều 155.

Như phân tích trên thì đây thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại. Do đó, nếu A có yêu cầu, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác.

Vì vậy, trong trường hợp này, cách tốt nhất là bạn nên hòa giải, thỏa thuận với A để A không nộp đơn yêu cầu xử lý hình sự. Tuy nhiên, bạn vẫn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho A.

5. “Đánh ghen” có phải là cách xử lý khôn ngoan?

Hôn nhân, tình yêu là một trong những vấn đề mà xã hội đặt cho những mối quan tâm hàng đầu. Theo giải thích từ ngữ của Luật hôn nhân và gia đình 2014, “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.” Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp, khi đứng trước lễ đuờng, hai con người hẹn thề sẽ yêu thương nhau đến cuối đời, ở bên nhau ngay cả lúc hạnh phúc lẫn khổ đau. Tuy nhiên không phải lời thề nào cũng sẽ thành sự thật, và không phải cuộc hôn nhân nào cũng hạnh phúc. Và từ những cuộc hôn nhân không hạnh phúc xuất hiện những vấn đề rất “nóng” mà xã hội quan tâm như “đánh ghen”, “không chung thuỷ”, “ngoại tình”, “bạo hành gia đình”, “người thứ ba”.

Về mặt “tình”, thì những người phá vỡ lời thề trong hôn nhân là những người sai và sẽ phải chịu sự dằn vặt. Nhưng xét về “lí”, tức là về mặt pháp luật, thì họ có phải chịu hậu quả gì không? Đâu là cách đúng đắn nếu chẳng may chúng ta rơi vào hoàn cảnh “người bạn đời” trở thành “kẻ thù đời”.

Hiến pháp năm 2013 quy định "Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tiến bộ, một vợ một chồng", có nghĩa rằng Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận hôn nhân có hai người. Những biến dị khác như hôn nhân đa thê hoặc tảo hôn đều là vi hiến. Tại Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng đưa ra những hành vi bị cấm như:

“…

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

…”

Và nếu phát hiện bạn đời của mình vi phạm điều trên, phản ứng của “người trong cuộc” thường thấy là “đánh ghen” hoặc “bạo hành gia đình”. Tuy nhiên, đây không phải là một ý kiến phù hợp với pháp luật và văn hoá xã hội. Do đó, trong trường hợp này, cần phải tỉnh táo và nắm chắc các điều luật sau đây.

Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính bổ trợ tư pháp hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã có quy định như sau:

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;”

Theo điều luật trên, hành vi ngoại tình sẽ bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Cùng với đó, nếu bạn đời của bạn có hành vi ngoại tình thì bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu đơn phương ly hôn khi cảm thấy không thể chung sống, đời sống chung không thể kéo dài theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Thứ hai, Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Do đó, căn cứ vào hậu quả gây ra do hành vi ngoại tình mà đối phương có thể bị xử lý theo mức phạt tương ứng. Nếu đối phương ngoại tình dẫn đến việc hai bạn ly hôn thì đối phương có thể bị xử phạt cải tại không giam giữ hoặc bị phạt tù theo như quy định trên. Bạn cũng cần đưa ra những chứng cứ để chứng minh đối phương có hành vi ngoại tình để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết .

Có thể thấy, đây chính là cách giải quyết tốt nhất cho trường hợp phát hiện ra người kết hôn với bạn đã “ngoại tình”. Bởi có đã có những trường hợp thực hiện “đánh ghen” đã phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê