1. Đánh ghen lột đồ người khác?

Thưa Luật sư. Bạn của tôi bị đánh ghen, lột quần áo ngay giữa đường, bị rắc ớt và nước mắm lên người. Ngoài ra còn bị quay video tung lên mạng xã hội. Vậy Luật sư cho tôi biết hành vi của các đối tượng gây ra cho bạn tôi sẽ bị xử lý như thế nào ?
Xin cảm ơn Luật sư.

Hành vi đánh ghen lột đồ người khác sẽ bị xử lý như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Tội làm nhục người khác:

Hành vi đánh đánh ghen, lột quần áo ngay giữa đường, bị rắc ớt và nước mắm lên người. Ngoài ra còn bị quay video tung lên mạng xã hội là các hành vi vi phạm tội làm nhục người khác được quy định tại điều 155, Bộ Luật hình sự 2015, sửa đôi bổ sung năm 2017:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.....

Như vậy hành vi làm nhục người khác thì sẽ bị xử lý theo hình phạt sau:

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (Nếu thuộc khoản 1).

- Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (Nếu thuộc khoản 2).

- Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm (Nếu thuộc khoản 3)

Hành vi làm nhục người khác sẽ bị phạt tù với mức phạt cao nhất là 05 năm.

Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền khi gây ra thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác:

Căn cứ theo điều 592, Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

2. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

Nếu trong hành vi đánh ghen có gây thương tích cho nạn nhân đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị xử lý về tội làm nhục người khác còn có thể bị xử lý về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác theo điều 134, Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngoài ra còn bị phạt tiền theo điều 590, Bộ luật dân sự năm 2015:

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

- Thiệt hại khác do luật quy định.

- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại ở các phần nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Như vậy: Hành vi đánh ghen có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội " làm nhục người khác " và có thể bị truy cứu thêm tội " cố cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác " nếu có đủ dấu hiệu phạm tội. Ngoài ra còn có thể bị phạt tiền (bồi thường thiệt hại).

>> Xem thêm:  Bảo vệ quyền lợi của cá nhân khi bị công an đánh ? Phải làm gì khi bị đe đọa đánh đập ?

2. Tội làm nhục người khác?

Chào luật sư, chuyện là trước đây em có quen 1 ng đàn ông đã có gia đình, đến khi em biết ngta có gia đình em đã rất nhiều lần kêu ngta buông tha cho em. Thậm chí em còn gọi đt cho vợ con người đó để nhờ ngta can thiệp, nhưng họ vẫn tìm e. Vì công việc và nhà ở em người ta biết em không tránh được. Mãi đến khi em hẹn vợ con và cả người đó ra nói chuyện mong chấm dứt tất cả, nhưng mà không vợ người ta đánh em, em chấp nhận không kháng cự để bị đánh mong là từ nay người ta không tìm em nữa. giờ đến lượt vợ người ta không buông tha cho em, kêu em giật chồng các thứ. Rồi cho người điều tra tất cả thông tin về em, khiến em phải bỏ công việc, nhà trọ mà trốn. Rồi không hiểu sao chồng người ta viết đơn ly hôn, rồi bị vợ đánh gì đó, rồi chạy đi khắp nơi tìm em. Lý do là khi bỏ nhà đi, người chồng đã tìm đến em. Em tưởng đã kết thúc nhưng người vợ hết nhắn tin gọi điện chửi bới xúc phạm em hết lần này lần khác. Em đã hứa không bao liên lạc chồng người ta nữa. Rồi họ sử dụng hình ảnh của em tung lên mạng xã hội hết lần này lần khác làm nhục em. Còn đe doạ nếu muôn tiêu huỷ thì em phải trả lại toàn bộ những gì mà chồng người ta cho em.
Em đến với chồng người ta là vì em yêu họ, yêu sai người chứ không hề lợi dụng, em có thể chứng minh được thu nhập cá nhân của mình. Bây giờ em muốn chuyện này kết thúc, em phải làm sao thưa luật sư, khi mà vài ba hôm vợ chồng người ta cãi nhau lại bắt đầu gây sự với em. Em sai nhưng cũng chẳng ai đúng ?
Mong sớm nhận được trả lời từ luật sư. Xin cảm ơn.

Trả lời:

Thứ nhất, phải xét xem các yếu tố có đủ cấu thành tội phạm của người phụ nữ đã làm nhục bạn (tạm gọi là chị A) không:

+ Mặt khách quan, chị A có những lời nói, hành vi xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của bạn, có những ngôn từ thô bỉ, chửi bới bạn. Trực tiếp đến gặp bạn như vậy đã là một yếu tố cấu thành tội rồi.

+ Về mặt chủ quan, chị A phạm tội này với lỗi cố ý, ý thức chủ quan là muốn xúc phạm, làm nhục, mong muốn người bị hại là bạn phải chịu sự lăng mạ với nhiều động cơ khác nhau để trả thù bạn, thỏa mãn tâm lý.

+ Chị A đó đã lấy chồng và là vợ chồng trên pháp lý được pháp luật công nhận, có thể coi là người thành niên, trên 18t, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Tội làm nhục người khác được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS) như sau:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm....

Tùy vào mức độ chị A gây ra thiệt hại hay tổn thương tâm lý, danh dự, nhân phẩm cho bạn mà chị A sẽ phải chịu trách nhiệm với các mức phạt khác nhau, có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, chị A còn có hành vi đánh đập bạn, có thể quy vào tội cố ý gây thương tích, cúng sẽ theo pháp luật quy định.

Bạn hoàn toàn có thể khởi kiện chị A ra tòa. Để bảo vệ bản thân.

Thứ hai, về vấn đề tư vấn, Thực ra tâm lý chung của các chị vợ, khi chồng mình đi ngoại tình, thường quy tội về người mà chồng mình tìm đến là người đã phá vỡ hạnh phúc gia đình mình, Nhưng không phải trường hợp nào cũng như vậy, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân, và đầu tiên cần chấn chỉnh phải là người chồng của mình. Vì tâm lý không được ổn định, người vợ thường có những suy nghĩ tiêu cực, không kiểm soát bản thân và mục đích cần phải trả thù, dằn mặt người đã khiến chồng mình phản bội mà dẫn đến những hành vi sai trái.

Còn với bạn hay tất cả phụ nữ nói chung, trước khi tiến tới với ai đó, cần phải tìm hiểu rõ ít nhất là về những cái cơ bản của đối phương như đối phương đã có gia đình chưa, có điều gì khiến các bạn nên dừng lại mối quan hệ này không để tránh làm trái đạo đức xã hội, tránh tổn thương sau này. tất nhiên loại trừ trường hợp có những người cố ý chen vào gia đình người khác kể cả khi biết người đó đã có gia đình.

Bạn cũng nên nghĩ đến việc, tại sao người đàn ông này tìm đến mình khi đã có gia đình, người ta có thể phản bội vợ vì lý do gì đó, liệu sau này nếu người ta đến với mình, người ta có chung thủy với mình hay không. Khi biết người ta có gia đình, bạn đã dừng lại mối quan hệ này, nhưng họ không buông tha bạn, ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn, bạn nên báo ngay lên cơ quan chính quyền để cơ quan có thẩm quyền can thiệp chứ không nên chịu đựng như vậy. Vì một khi họ muốn phá bạn, thì họ sẽ làm đủ mọi cách để khiến bạn khổ.

Bạn nên tỉnh táo để bảo vệ bản thân!

>> Xem thêm:  Làm nhục người khác là gì ? Tội làm nhục và tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?

3. Đánh ghen tống tiền?

Chào luật sư! Em muốn Luật sư tư vấn giải đáp và cho em hướng giải quyết sự việc như sau. Cách đây khoảng hơn 1 năm em có quen 1 cô gái (cô đó đã có chồng nhưng chồng đi tù vì tội đòi nợ thuê và em cũng đã có gia đình). Trong quá trình quen biết dần dần nảy sinh tình cảm. Sau đó chúng em có đi nhà nghỉ quan hệ vài lần.
Khoảng 1 năm trở lại đây vì sợ lộ ra mối quan hệ đó ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình lên em đã cắt đứt mối quan hệ đó. Nhưng cách đây 15 ngày, em vô tình vào mạng (zalo) thì thấy nick cô gái đó nên chúng em lại chat với nhau rồi rủ nhau đi nhà nghỉ. Em vẫn nghĩ là chat với cô ấy nhưng thực ra chồng cô ấy (khi xảy ra việc em mới biết ). Khi đang đi đến chỗ hẹn (đang đi trên đường quốc lộ) thì em bị 4 đối tượng đi trên ô tô con quây bắt và đánh đập (trong đó có chồng cô ấy). Xong bọn chúng bắt em đi đến 1 quán nước ven đường, đến đây chúng bắt em viết 1 bản tường trình về việc quan hệ bất chính với cô gái ấy (người bắt em viết giấy là chồng cô gái). Sau đó chúng bắt em viết 1 giấy nhận nợ với hình thức là mượn oto của bọn chúng đang đi với giá trị 500 000 000 (năm trăm triệu đồng). Vì sợ chúng đánh đập tiếp và tìm lối thoát thân nên em đã viết dưới sức ép của bọn chúng. Sau đó chúng bắt em đưa tiền, lúc đó trong túi em có 10 000 000 (mười triệu đồng).
Em đã đưa cho chúng 10 triệu và có ghi vào giấy là đưa trước rồi bọn chúng thả em. Ngày hôm sau bọn chúng (chồng cô gái) lại gọi điện nhắn tin đòi tiền, vì sợ nên em đã chuyển tài khoản thêm cho chúng 10 triệu nữa. Được khoảng 1 tuần sau chúng lại gọi điện nhắn tin đòi tiền. Vì em không hiểu biết về pháp luật lên em mong Luật sư giải đáp giúp em. Sự việc em vẫn giấu gia đình vì sợ hạnh phúc gia đình tan vỡ. Em xin nói thêm là lúc bọn chúng quây bắt em chỉ có mình em chứ không có mặt cô gái ?
Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Trước tiên, việc bạn có qua lại với cô gái một vài lần sẽ không cấu thành tội hình sự (Điều 147 Bộ luật hình sự - vi phạm chê độ một vợ một chồng). Theo đó, chỉ khi bạn có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với cô gái thì mới cấu thành tội. Hiện tại, việc qua lại một vài lần chỉ bị lên án về đạo đức.

* Về hành động của chồng cô gái thì đã cấu thành tội phạm hình sự theo Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, cụ thể:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Nếu hành vi của người chồng vi phạm các quy định nêu trên thì sẽ bị xử phạt về tội cố ý gây thương tích. Trong trường hợp thương tật ở mức nhẹ thì sẽ bị xử phạt hành chính.

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.....

Vì người chồng đã uy hiếp tinh thần của bạn để tống tiền và chiếm đoạt tài sản, do vậy hành vi này đã cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản và có thể bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

Để giải quyết triệt để vấn đề này, tốt nhất bạn nên trình báo lên cơ quan công an. Vì đây là tội phạm hình sự cần được trừng phạt đích đáng. Bạn cũng nên có biện pháp và chuẩn bị sẵn tinh thần trong trường hợp vợ và gia đình biết chuyện.

>> Xem thêm:  Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

4. Đánh ghen nhầm?

Thưa Luật sư, em gái tôi trong vài ngày vừa qua đã bị một người phụ nữ lạ mặt đánh ghen, dùng kéo cắt tóc rồi đe dọa, uy hiếp và nói rằng em gái tôi cướp chồng của cô ta. Nhưng ngay hôm sau, người đó đã đến xin lỗi và nhận mình đã đánh nhầm người.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi việc người phụ nữ đánh ghen nhầm em gái tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Xin cảm ơn!

Đánh ghen nhầm có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Luật sư tư vấn quy định pháp luật về đánh ghen, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo điểm e khoản 3 điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

Do anh chưa cung cấp đầy đủ thông tin về tỷ lệ thương tật của em gái anh gặp phải là bao nhiêu phần trăm, nên bước đầu xác định việc xâm hại đến sức khỏe của người phụ nữ kia sẽ bị xử phạt hành chính từ 2.000.000 VNĐ đến 3.000.000 VNĐ. Song, khi em gái anh chính thức có kết luận về tỷ lệ thương tật thì hoàn toàn có thể làm đơn tố cáo hành vi phạm tội đó tới cơ quan công an hoặc Tòa án nhân dân cấp Quận (huyện) để được giải quyết. Cụ thể khi có đầy đủ yếu tố cấu thành thì chị ta có thể bị khởi tố hình sự về tội danh cố ý gây thương tích theo Điều 134 về tội Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì có thể bị xử lý phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Ngoài ra, việc người phụ nữ đã đến xin lỗi và nhận mình đánh ghen nhầm người thì được coi là một cơ sở để áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho trách nhiệm hình sự cho tội danh cố ý gây thương tích, bởi hành vi của họ là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.

5. Chuyển hóa tội phạm?

Trả lời:

Đôi khi trong xét xử các vụ án hình sự cho thấy, có rất nhiều vụ án gây nên hậu quả chết người nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ xác định hành vi đó là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người. Hay đôi khi có những hành vi phạm tội ban đầu chỉ đơn thuần là để gây thương tích song sau đó lại dẫn đến hậu quả chết người. Do vậy, để đảm bảo sự công minh, xét xử đúng người, đúng tội, ta cần làm rõ ranh giới mong manh giữa cố ý gây thương tích dẫn đến chết người và giết người như sau:

Về mục đích phạm tội

Mục đích của người phạm tội giết người là muốn tước đoạt mạng sống, xâm phạm trực tiếp và chính diện đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Mong muốn khi thực hiện hành vi phạm tội của tội phạm là làm người khác chết.

Mục đích của người phạm tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không muốn tước đoạt mạng sống của người khác. Để thực hiện hành vi này, người phạm tội dùng các loại vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại, a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm… và đôi khi đã xảy ra hậu quả ngoài ý muốn là tước đoạt mạng sống của nạn nhân.

Tội cố ý gây thương tích

Về lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội

Với tội giết người, người phạm tội mang lỗi cố ý với cả hành vi và hậu quả chết người. Họ ý thức được hành vi của mình sẽ dẫn đến hậu quả là làm người khác chết nhưng vẫn cố ý thực hiện và mong muốn hậu quả chết người xảy ra.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quy định về chứng cứ, nguồn chứng cứ?

Trả lời:

1. Quy định chứng cứ

Theo Điều 86 Bộ luật tốt tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015), chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

So với quy định trước đây, khái niệm trong BLTTHS 2015 đã mở rộng chủ thể sử dụng chứng cứ khi không quy định chỉ giới hạn “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án" mới có quyền này. Điều này đảm bảo quyền tham gia của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác vào quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể là việc tham gia sử dụng chứng cứ, và cả việc kiểm tra, đánh giá các nguồn chứng cứ.

Dựa trên khái niệm này, chứng cứ có các đặc điếm sau: Chứng cứ là có thật, bảo đảm tính khách quan; Chứng cứ có tính hợp pháp; Chứng cứ phải liên quan đến vụ án. Như vậy, nếu thiếu một trong ba yếu tố trên thì sẽ không được xem là chứng cứ.

2. Nguồn chứng cứ

Hiện nay chưa có khái niệm như thế nào là nguồn chứng cứ, khoản 1 Điều 87 BLTTHS 2015, chỉ mới liệt kê các nguồn chứng cứ sau đây: Vật chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác.

Vật chứng: rất đa dạng, có thể là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, thậm chí là tiền,…có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Nhìn chung, vật chứng trước tiên phải tồn tại ở dạng vật chất, phải liên quan chặt chẽ và phản ánh được những sự kiện khách quan của vụ án hình sự. Trong các nguồn chứng cứ, có thể nói vật chứng là nguồn chứng cứ quan trọng nhất.

Lời khai, lời trình bày: theo quy định lời khai được dùng làm chứng cứ rất đa dạng, nhưng quan trọng nhất vẫn là lời khai của bị cáo, bị hại (nếu có), người làm chứng,… So với vật chứng, lời khai mang tính chủ quan và chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Do vậy, trong nhiều vụ án, việc chỉ đánh giá lời khai mà đưa ra quyết định có hay không hành vi tội phạm, đôi khi sẽ mang tính chủ quan và rất dễ dẫn đến oan sai. Lời khai ban đầu do cơ quan điều tra thông qua các biện pháp nghiệp vụ mà có được, sau đó trong quá trình xét xử Toà án tiếp tục kiểm tra tính hợp pháp của nguồn chứng cứ này.

Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Nhìn chung, loại chứng cứ này thường chỉ xuất hiện trong các vụ án liên quan đến công nghệ thông tin, việc thu thập loại chứng cứ cũng đòi hỏi nhiều biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành.

Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định.

Kết luận định giá tài sản là văn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu.

Biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử: Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định của Bộ luật tố tụng có thể được coi là chứng cứ.

Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác: Do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án.

Các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án: Những tình tiết liên quan đến vụ án ghi trong tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ vật này có đặc điểm quy định tại Điều 89 BLTTHS 2015 thì được coi là vật chứng.

Câu hỏi: Chế tài đối với tội cố ý gây thương tích

Trả lời:

Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Theo quy định tại khoản 1 điều 134 BLHS 2015, phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Các trường hợp đó cụ thể là:

Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên: Tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn: “Dùng hung khí nguy hiểm là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17.4.2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Do vậy, hung khí nguy hiểm bao gồm cả vũ khí (súng các loại, bom, mìn, lựu đạn…) và phương tiện nguy hiểm (búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn); còn thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người có thể kể đến như dùng bom xăng…

Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: Hóa chất nguy hiểm được định nghĩa tại Khoản 5 Điều 3 Thông tư 04/2012/TT-BCT quy định phân loại và ghi nhãn hóa chất do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành, bao gồm các đặc tính như dễ nổ, ăn mòn mạnh, oxy hóa mạnh…

Chế tài với tội cố ý gây thương tích

Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân: Theo như Khoản 1 mục I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP quy định, cấu tật nhẹ là trạng thái bất thường, không thể chữa được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân dù tỷ lệ thương tật dưới 11%

Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp phạm tội với nhiều lần, cho thấy tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.

Phạm tội đối với 02 người trở lên: Là trường hợp phạm tội với nhiều người, cho thấy tính nguy hiểm của công cụ, thủ đoạn mà đối tượng thực hiện hành vi có khả năng tác động và gây thương tích, tổn hại sức khỏe cho nhiều người.

Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ: Ở đây ta cần lưu ý với trường hợp phụ nữ có thai. Chỉ khi tội phạm biết và đủ căn cứ để biết được rằng người phụ nữ này đang mang thai mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội thì mới thuộc trường hợp này.

Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình: Là những người có quan hệ ruột thịt hoặc nuôi dưỡng, dạy dỗ đối với người thực hiện hành vi. Quy định này đề cao giá trị đạo đức trong xã hội trước hành vi phạm tội.

Phạm tội có tổ chức: Là trường hợp có từ 02 người trở lên, bàn bạc, cấu kết để cùng thực hiện hành vi (đồng phạm).

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Là hành vi cố ý gây thương tích của những người có chức vụ, quyền hạn nhưng không liên quan đến công vụ của người đó.

Câu hỏi: Bồi thường thiệt hại

Trả lời:

Chủ thể của hành vi cố ý gây thương tích ngoài việc phải chấp hành trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt hành chính còn có nguy cơ phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân nếu gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của họ. Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 đã quy định cụ thể về bồi thượng thiệt hại do sứa khỏe bị xâm hại như sau:

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

d) Thiệt hại khác do luật quy định

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”