1. Nguyên nhân dẫn đến ghen tuông mù quáng

Ghen tuông là cảm xúc rất bình thường của con người, một chút ghen tuông có thể làm cho mối quan hệ trở nên lãng mạn hơn. Tuy nhiên, chắc hẳn trong tình yêu có những lúc ghen tuông khiến chúng ta cảm thấy bực bội, khó chịu. Hầu hết mọi người ghen tuông ở mức cơ bản tuy nhiên một số ghen tuông đến mức bệnh lý, trong trường hợp này mối quan hệ của họ sớm muộn gì cũng đổ vỡ. Hãy tìm hiểu một số nguyên nhân khiến chúng ta ghen tuông quá mức.

Ba nguyên nhân dẫn đến ghen tuông mù quáng trong tình yêu

Nguyên nhân dẫn đến ghen tuông mù quáng - ảnh minh họa

Thiếu tự tin.

Người tự ti là người ghen tuông thường xuyên nhất. Họ không tin vào bản thân mình và mối quan hệ của mình. Họ không cho rằng mình tài giỏi, đẹp đẽ, giàu có, hay tử tế đến mức có thể giữ được người yêu bên cạnh dài lâu. Sự tự ti này mang tính tương đối, nghĩa là một người sáng sủa, dễ nhìn, thành công trong nghề nghiệp vẫn có thể có những mặc cảm, ghen tuông trong tình yêu.

Suy nghĩ nhiều

Ngoài ra, não của một số người có khuynh hướng làm việc không ngừng; nó luôn tạo ra những lo lắng Vì cách mà bộ não hoạt động, họ thường xuyên suy nghĩ nhiều, e ngại những thứ có thể làm rạn nứt mối tình của mình. Đối với những người này, thử thách lớn nhất chính là sự mơ hồ, sự không chắc chắn. Ví dụ như, khi người yêu về nhà muộn, họ cảm thấy khó chịu, không thể chịu đựng nổi việc không biết người yêu đã đi đâu, làm gì, tại sao lại không nghe điện thoại. Và khi không tìm được câu trả lời, não của họ tự điền vào chỗ trống. Họ suy diễn, tự đoán già, đoán non. Những suy nghĩ vô cùng tiêu cực, như người yêu của mình đã “chán cơm, thèm phở.”

Tính đa nghi, hoang tưởng

Nhiều người hay ghen, nhưng bởi vì bẩm sinh họ đã có tính đa nghi. Họ nghi ngờ mọi thứ trong cuộc sống; khó tin tưởng vào người khác. Họ thường xuyên cho rằng những người xung quanh có mưu đồ xấu, nên ít khi dám đặt niềm tin vào ai. Vì cái tính này, họ dễ cảm thấy mình bị lừa, bị lợi dụng. Họ tin rằng ai cũng chực chờ cơ hội từ chối họ, xa lánh họ, và phá hỏng cuộc sống họ đã mất công sức xây dựng. Cuối cùng, đàn ông và phụ nữ có tính đa nghi thường thường là người đổ thừa. Thay vì tự xem xét lại bản thân mình, ngẫm nghĩ về những lỗi sai mình đã mắc phải, họ lại đổ lỗi cho người khác. Những người này ghen tuông bởi họ khăng khăng rằng người yêu của mình ngoại tình, dẫu cho chẳng có chứng cớ gì cả.

Tóm lại...

Nếu bạn đang ở trong một mối quan hệ và đối phương khiến bạn cảm thấy ghen tuông ghê gớm, hãy hỏi xem trong quá khứ bạn đã từng ghen như vậy chưa. Nếu bạn không phải là người hay ghen tuông, thì linh cảm không tốt của bạn lúc này, có thể phát sinh từ một mối quan hệ không bền vững. Bản năng của bạn, đang cố mách bảo với bạn rằng bạn nên cẩn thận.

Nếu người yêu của bạn là một người hay ghen tuông, hãy hiểu rằng, họ sẽ khó kiềm nén tính ghen tuông của mình. Việc này thường đòi hỏi sự can thiệp của chuyên gia và có thể mất thời gian. Nếu họ không đi điều trị, bạn cần xác định rõ giới hạn chịu đựng của bạn. Yêu những người ghen tuông quá mức có thể ảnh hưởng đáng kể đến đời sống tinh thần của bạn.

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, phổ biến. Nếu có điều gì cần chia sẻ, trợ giúp về tâm lý quý khách hãy gọi đến tổng đài tư vấn tâm lý : 1900.6162 chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cùng bạn tháo gỡ khó khăn !

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

2. Đánh ghen như thế nào thì phạm luật ?

Thưa luật sư, em có một người chị, chị em mới phát hiện ra chồng mình ngoại tình, người phụ nữ ngoại tình với chồng chị em làm việc tại cơ quan nhà nước, biết rõ anh rể em đã có gia đình nhưng vẫn có quan hệ bất chính. Chị em đang muốn rủ em đi cùng chị ấy đến cơ quan chị này nói chuyện với lãnh đạo cơ quan để tất cả mọi người cùng biết, nếu có vấn đề gì có thể sử dụng vũ lực. Em không biết chúng em làm như vậy có phạm tội gì không ?
Xin chân thành cảm ơn luất sư!

Trả lời:

Chúng tôi rất thông cảm và thấu hiểu cho hoàn cảnh của người bạn chị đang gặp phải , tuy nhiên trong trường hợp này , bạn chị và chị nên hết sức giữ bình tĩnh và suy xét kỹ trước khi có bất cứ hành động gì bởi :

Thứ nhất, quyền bất khả xâm phạm về nhân phẩm , danh dự , sức khỏe , tính mạng là quyền cơ bản của mỗi người, dù người này có vi phạm về đạo đức xã hội hay vi phạm về pháp luật thì trong trường hợp này bạn và chị bạn cũng không có quyền được dùng bạo lực hay bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người này. Việc dùng bạo lực đánh đập, hay bôi nhọ danh dự của người khác nhẹ thì có thể bị xử phạt hành chính, nghiêm trọng hơn thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Cụ thể:

Thứ nhất, xử lý hành chính: Nếu việc "đánh ghen" của chị và bạn mình không gây ra những hậu quả nghiêm trọng thì hai người có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

Thứ hai, xử lý hình sự:

Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy him hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy him hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trlên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần tr lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người tr lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy d, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% tr lên

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

Vì vậy , chị và bạn chị tuyệt đối không nên có hành vi đến cơ quan đánh đập hay có những lời lẽ xúc phạm bôi nhọ người này .

Thứ hai , bạn nên xử lý tình huống của mình như thế nào ?

Với trường hợp của bạn, việc có quan hệ tình cảm với người đã có gia đình tuy chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng, chưa vi phạm pháp luật nhưng điều này trái với đạo đức xã hội. Việc đầu tiên để có thể xử lý trường hợp này đó là bạn phải có bằng chứng xác đáng để chứng minh điều bạn đưa ra là có căn cứ và đúng sự thật. Bạn có thể xác định, tại cơ quan người này có đang tham gia tổ chức đoàn thể nào không (VD đang là đảng viên, đang giữ những chức vụ cao, yêu cầu uy tín cao...) bạn có thể gửi thư đề nghị cho cơ quan, tổ chức mà người này đang công tác để đơn vị chủ quản của họ có biện pháp kỷ luật phù hợp.

Bạn và chị mình cũng nên có buổi nói chuyện hoặc nhờ các tổ chức xã hội như hội phụ nữ ... can thiệp và làm công tác tư tưởng cho người này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, hy vọng có thể giúp bạn giải đáp được những vướng mắc của mình. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ của Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 .

3. Chặn đường đánh và dùng kéo cắt tóc và quần áo xử lý thế nào ?

Kính gửi, Thưa luật sư, tôi có một đứa em gái, hôm vừa rồi khi ra ngoài đường bị một nhóm khoảng 4 - 5 người có cả nam và nữ khoảng 15 - 16 tuổi chặn đường đánh và dùng kéo cắt tóc và quần áo. Vậy xin hỏi luật sư với hành vi của nhóm thanh niên đó sẽ bị xử lý như thế nào?

Xin luật sư tư vấn. Cám ơn luật sư rất nhiều.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Xét theo hành vi của nhóm người đánh em bạn, cụ thể là chặn đường đánh và dùng kéo cắt tóc và quần áo, đây thuộc hành vi cố ý gây thương tích cho người khác. Tuỳ vào mức độ nghiêm trong, nguy hiểm của hành vi mà có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự như sau:

Thứ nhất, xử lý hành chính:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

Thứ hai, xử lý hình sự:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Ngoài ra, người bị hại còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Emailhoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

4. Làm gì khi bị chồng chửi bới đánh đập, xúc phạm nhân phẩm ?

Thưa luật sư, cho cháu xin hỏi khi người chồng mà suốt ngày uống rượu và chửi bới, đánh đập vợ và có hành vi xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của người vợ thì nên làm như thế nào thưa luật sư ?

Cháu xin cảm ơn.

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

Nên làm thế nào khi chồng suốt ngày uống rượu, chửi bới đánh đập, xúc phạm nhân phẩm của vợ?

Luật sư tư vấn xử lý hành vi bạo lực gia đình, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp, người chồng thường xuyên có hành vi suốt ngày uống rượu và chửi bới, đánh đập vợ và có hành vi xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của người vợ. Do đó, căn cứ theo quy định của Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đìnhBộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Thứ nhất, đối với hành vi đánh đập vợ với mức độ nhẹ, chưa đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, căn cứ Điều 49 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

Như vậy, người chồng có hành vi bạo lực gia đình, có hành vi đánh đập vợ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì người chồng có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng hoặc có thể là phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng, tùy thuộc vào từng mức độ và tích chất của hành vi, đồng thời, người chồng phải công khai xin lỗi vợ. Trong trường hợp này, người vợ có quyền làm đơn yêu cầu xử phạt vi phạm hành chính hành vi của anh chồng tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn để yêu cầu giải quyết.

Nếu trong trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn đã xử phạt vi phạm hành chính mà người chồng vẫn tiếp tục đánh đạp vợ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn chưa xử phạt nhưng mức độ nguy hiểm của hành vi đánh đạp vợ của người chồng rất nặng thì người vợ có quyền nộp đơn tố giác tội phạm về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Thứ hai, đối với hành vi xúc phạm, chửi bới vợ. Căn cứ quy định tại Điều 51 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình:

"1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;
c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;
b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này."

Như vậy, người chồng đang có hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự nhân phẩm của vợ thì người chồng có thể bị xử phạt với mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, đồng thời, người chồng phải công khai xin lỗi vợ theo quy định. Lúc này, người vợ có quyền làm đơn yêu cầu xử phạt vi phạm hành chính hành vi của anh chồng tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn để yêu cầu giải quyết.

Bên cạnh đó, nếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn không thể giải quyết được và không thể hòa giải được cho hai vợ chồng, người vợ có quyền làm đơn tố giác tội phạm tới Cơ quan công an cấp Quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh để yêu cầu giải quyết đối với hành vi làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

5. Hiểu lầm ngoại tình, bị chồng đánh muốn ly hôn ?

Chào các anh chị. Cách đây 8 năm em có cặp bồ bị chồng phát hiện nhưng chồng em tha thứ cho em. Nhưng mới đây chỉ vì 1 tin nhắn trêu đùa của em rể thế là chồng lại bảo em cặp kè với chú ấy, rồi lao vào đánh em như kẻ thù.

Vậy anh chị cho em hỏi trường hợp của em muốn ly hôn đơn phương thì cần những giấy tờ gì ? Em có được quyền nuôi con hay không( em có 3 con, đứa lớn 13t, thứ 2 11 tuổi và con út 17 tháng). Em là người đệ đơn thì khi hoà giải em có được phép vắng mặt không ?

Em cảm ơn anh/ chị nhiều.

>> Xem thêm:  Mang dao phòng thân có được pháp luật cho phép không ? Dùng dao đâm người khác phạm tội gì ?

- T.T.T.P

Luật sư trả lời:

Trường hợp của bạn, có thể chồng bạn đã bị ám ảnh và trở nên đa nghi khi trước đây bạn đã từng có lỗi. Có thể do quá nóng vội chồng bạn không thể kiềm chế được cảm xúc nên có hành vi bạo hành gia đình. Hiểu lầm khi có những tin nhắn trêu đùa là điều dễ hiểu khi quá khứ vẫn còn nghi ngờ về sự chung thủy của vợ mình.

Nếu bạn muốn đơn phương ly hôn, bạn có thể làm đơn ra Tòa, và chồng bạn có thể bị xử phạt về hành vi bạo lực gia đình.

Theo Điều 5 Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 quy định về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình.

Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình

1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;

c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;

d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định:

"1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng".

Hành vi của chồng bạn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 49 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này

Với trường hợp này về vấn đề dành quyền nuôi con.

Bé thứ nhất 13 tuổi và bé thứ hai 11 tuổi, hai bế này Tòa án sẽ xử khi theo nguyện vọng của bé, bé muốn ở với ai thì Tòa sẽ xử để người đó nuôi.

Còn bé út 17 tháng, vì bé dưới 3 tuổi, nên bạn là mẹ bé đương nhiên sẽ được quyền nuôi bé.

Còn vấn đề liên quan đến vắng mặt phiên hòa giải, vì bạn là người đưa đơn nên bạn cần có mặt tại phiên tòa.

Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật

Điều 228. Xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa.

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy địn

Bạn có quyền được đưa đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nhưng những phiên hòa giải bạn nên có mặt để vụ án được giải quyết nhanh hơn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?