1. Tội hủy hoại rừng được quy định như thế nào?

Tội hủy hoại rừng được quy định tại Điều 243 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 cụ thể như sau:

Điều 243. Tội hủy hoại rừng
1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rỉmg khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2);
b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);
c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2);
d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2);
đ) Gây thiệt hại về lăm sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng trong trường họp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích;
e) Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 40.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
g) Diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản dưới mức quy định tại một trong các diêm a, b, c, d, đ và e khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chỉnh về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Cây trông chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 50.000 mét vuông (m2) đến dưới 100.000 mét vuông (m2);
đ) Rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2);
e) Rừng phòng hộ có diện tích từ 7.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);
g) Rừng đặc dụng có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 5.000 mét vuông (m2);
h) Gây thiệt hại về lâm sản trị giả từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tỉnh được bằng diện tích;
ỉ) Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quỷ, hiếm Nhóm IA trị giá từ 60.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tải sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích 100.000 mét vuông (m2) trở lên;
b) Rừng sản xuất có diện tích 50.000 mét vuông (m2) trở lên;
c) Rừng phòng hộ có diện tích 10.000 mét vuông (m2) trở lên;
d) Rừng đặc dụng có diện tích 5.000 mét vuông (m2) trở lên;
đ) Gầy thiệt hại về lâm sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích;
e) Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá 100.000.000 đồng trở lên; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quỷ, hiếm Nhóm IIA trị giá 200.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cẩm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường họp quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g, h và i khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
(ty Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cẩm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vẻn từ 01 năm đến 03 năm.

Đốt rừng làm nương rẫy bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

2. Bình luân

Điều luật gồm 5 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội hủy hoại rừng; các khoản 2,3 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng; khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung đối với người phạm tội và khoản 5 quy định khung hình phạt cho pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể, của tội phạm này là chủ thể thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

2.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm được quy định có thể là:
Thứ nhất, hành vi đốt rừng trái phép: Đốt rừng trái phép “là hành vi cố ý làm cháy rừng với bất kỳ mục đích gì mà không được người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép”, như đốt rừng để làm nương, làm rẫy ở những khu vực không được phép. Việc sử dụng lửa trong rừng không phải là hành vi bị cấm tuyệt đối (như có thể được dùng lửa để dọn dẹp, chuẩn bị đất để trồng rừng,...) tuy nhiên, người dùng lửa phải tuân thủ quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng.
Thứ hai, hành vi phá rừng trái phép: Phá rừng trái phép là chặt phá rừng, ken cây và các hành vi khác trái pháp luật làm cho cây rừng bị chết với bất kỳ mục đích gì, trừ các trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 Phan IV Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Hành vi này có thể là chặt, phá cây rừng để làm nương, làm rẫy, làm trang trại chăn nuôi, để nuôi trồng thuỷ sản trong rừng ngập mặn, -.. Hành vi phá rừng để lấy gỗ không thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật này mà có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 232 BLHS.
Thứ ba, hành vi khác huỷ hoại rừng: Đây là những hành vi không phải là đốt, phá rừng nhưng cũng có thể huỷ hoại rừng như đào, bới, nổ mìn, san ủi, đào, đắp ngăn nước thuỷ triều, tháo nước hoặc xả chất độc hại vào rừng trái pháp luật... làm cho cây rừng bị chết hàng loạt, đất rừng bị ô nhiễm.
Đối tượng bị đốt, phá, bị huỷ hoại ở đây là rừng. Trong đó, rừng được hiểu là “một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng” hoặc hiểu theo Luật lâm nghiệp năm 2017 (đã được ban hành và có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/01/2019), thì rừng là “một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 243 BLHS, các đổi tượng tác động của tội phạm này bao gồm: cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng, rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (do Chính phủ ban hành) hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA, nhóm IIA (do Chính phủ ban hành(602>. Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Rừng phòng hộ được phân thành các loại rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái. Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen thực vật, động vật rừng; nghiên cửu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch. Rừng đặc dụng được phân thành các loại như vườn quốc gia; khu rừng bảo tồn thiên nhiên; khu rừng văn hoá - xã hội, nghiên cứu thí nghiệm. Ranh giới của khu rừng đặc dụng phải được xác định bằng hệ thống biển báo, mốc kiên cố. Rừng sản xuất được sử dụng chủ yểu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm nghiệp khác, đặc sản rừng, động vật rừng và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái.

2.3 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Điều luật quy định hành vi hủy hoại rừng cấu thẩnh tội phạm khi gây ra mệt trong các hậu quả sau (thể hiện qua mức độ thiệt hại hoặc mức độ của hành vi hủy hoại):
Thứ nhất, diện tích cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng bị huỷ hoại từ 30.000 m2 trở lên;
Thứ hai, diện tích rừng sản xuất bị huỷ hoại từ 5.000 m2trở lên;
Thứ ba, diện tích rừng phòng hộ bị huỷ hoại từ 3.000 m2trở lên;
Thứ tư, diện tích rừng đặc dụng bị huỷ hoại từ 1.000 m2 trở lên;
Thứ năm, gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 50 triệu đồng trở lên trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích;
Thứ sáu, thiệt hại cho thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiêm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 20 triệu đồng trở lên;
Thứ bảy, thiệt hại cho thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 40 triệu đồng trở lên.
- Dấu hiệu nhân thân thay thế cho dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Cùng với việc quy định trường hợp cấu thành tội phạm khi hành vi hủy hoại rừng gây hậu quả nhất định được bình luận trên, điều luật còn quy định trường họp hành vi này cũng cấu thành tội phạm dù chưa gây ra hậu quả như vậy. Đó là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về hành vi này đã thực hiện trước đó mà không phụ thuộc vào dạng hành vi cụ thể.

2.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thế

Lỗi của chủ thể khi thực hiện tội phạm này là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi huỷ hoại rừng của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện.

2.5 Khung hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm hủy hoại rừng mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: Đây là trường hợp phạm tội mà người thực hiện hành vi huỷ hoại rừng là người có chức vụ, quyền hạn và họ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản để thực hiện hành vi phạm tội như trưởng ban quản lý rừng phòng hộ thực hiện hành vi san ủi rừng để xây dựng công trình trái phép hoặc là trường hợp phạm tội mà người phạm tội không phải là người có chức vụ, quyền hạn nhưng đã lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi huỷ hoại rừng như giám đốc một công ty lợi dụng danh nghĩa của công ty được giao đất rừng để huỷ hoại rừng.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS.
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng cỏ diện tích từ 50.000 mét vuông (m2) đến dưới 100.000 mét vuông (m2): Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại các cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng với diện tích lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 1 (từ 50.000m2 đến dưới 100.000m2).
- Rừng sản xuất cỏ diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2): Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng sản xuất với diện tích lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 1 (từ 10.000m2 đến dưới 50.000 m2).
- Rừng phòng hộ có diện tích từ 7.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2): Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng phòng hộ với diện tích lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 1 (từ 7.000 m2 đến dưới 10.000 m2).
- Rừng đặc dụng có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đen dưới 5.000 mét vuông (m2): Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng đặc dụng có diện tích lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 1 (từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2).
- Gãy thiệt hại về lâm sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng trong triĩờng hợp rừng bị thiệt hại không tỉnh được bằng diện tích: Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây thiệt hại về lâm sản trị giá lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 1 (từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng) trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bàng diện tích.
- Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm ỈA trị giá từ 60.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giả từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng: Đây là trường hợp phạm tội đã gây thiệt hại cho các loài thực vật đặc biệt ở mức độ lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 1 (thiệt hại cho thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiểm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 60 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; thiệt hại cho thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng).
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung tăng nặng sau:
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích 100.000 mét vuông (m2) trở lên: Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại các cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng với diện tích lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 2 (từ 100.000 m2 trở lên).
- Rừng sản xuất có diện tích 50.000 mét vuông (m2) trở lên: Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng sản xuất với diện tích lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 2 (từ 50.000 m2 trở lên).
- Rừng phòng hộ có diện tích 10.000 mét vuông (m2) trở lên: Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng phòng hộ với diện tích lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 2 (từ 10.000 m2 trở lên).
- Rừng đặc dụng có diện tích 5.000 mét vuông (m2) trở lên: Đây là trường họp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng đặc dụng với diện tích lớn hơn trường họp được quy định tại khoản 2 (từ 5.000 m2 trở lên).
- Gây thiệt hại về lâm sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tỉnh được bằng diện tích: Đây là trường hợp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây thiệt hại về lâm sản lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 2 (trị giá từ 200 triệu đồng trở lên trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích).
- Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá 100.000.000 đồng trở lên; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá 200.000.000 đồng trở lên: Đây là trường họp người phạm tội đã đốt, phá, hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng làm thiệt hại cho các loài thực vật đặc biệt ở mức độ lớn hơn trường hợp được quy định tại khoản 2 (thiệt hại cho thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 100 triệu đồng trở lên; thiệt hại cho thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 200 triệu đồng trở lên).
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng cho người phạm tội) là: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt cho pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng.
- Nếu hành vi phạm tội thuộc các điểm a, c, d, đ, e, g, h và i khoản 2 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 02 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng.
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 3 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại là phạt tiền từ 05 tỷ đồng đến 07 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.
- Nếu hành vi phạm tội thuộc trường họp được quy định tại Điều 79 BLHS, thì pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: Đây có thể là trường họp hành vi phạm tội đã gây hậu quả rất lớn như gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà pháp nhân thương mại không có khả năng khắc phục (khoản 1 Điều 79 BLHS) hoặc là trường họp phạm tội thuộc khoản 2 Điều 79.(6,1)
- Pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đén 200 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê