1. Cơ sở pháp lý

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

- Thông tư số 22/2019/TT-NHNN

- Thông tư số 36/2014/TT-NHNN

- Thông tư số 06/2016/TT-NHNN

- Thông tư số 19/2017/TT-NHNN

- Thông tư số 16/2018/TT-NHNN

2. Dư nợ và số dư tín dụng là gì?

Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đều giải thích, cấp tín dụng bao gồm 6 nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Tuy nhiên, Luật lại không phân biệt rõ giữa “dư nợ” và “số dư” cấp tín dụng, một vấn đề rất quan trọng, để xác định giới hạn cấp tín dụng.

Số dư trong lĩnh vực kinh tế nói chung bao gồm số dư nợ và số dư có, gọi tắt là “dư nợ” và “dư có”, mang tính chất đối ngược nhau. Sô' dư trong giao dịch huy động và cho vay vô'n của ngân hàng gồm “dư nự’ là khoản ngân hàng cho vay và “dư có” là ngân hàng đi vay (tiền gửi tại ngân hàng). Ngược lại với cách gọi của ngân hàng, đối với doanh nghiệp, sô' tiền gửi ngân hàng (cho ngân hàng vay) là “số dư nợ”, số tiền vay ngân hàng (nợ ngân hàng) là “số dư có”. (Tiết a và e điểm 1.4 khoản 1 Điều 112 về “Hướng dẫn lập và trình bày Bảng cân đối kế toán năm”, Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính “Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp” (sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 75/2015/TT-BTC ngày 18/5/2015 và sô' 53/2016/ TT-BTC ngày 21/3/2016 của Bộ Tài chính).)

Đối với số dư trong cấp tín dụng bao gồm hai khoản khác nhau là “dư nợ” tương đương với khoản cho vay và “số dư khác” (không phải là “dư có”).

Pháp luật tài chính giải thích “dư nợ là khoản tiền vay đã giải ngân nhưng chưa hoàn trả hoặc chưa được xóa nợ tại một thời điểm nhất định”. (Khoản 15 Điều 3 Luật quản lý nợ công năm 2017), và “tổng số dư nợ là tổng các khoản tiền vay đã giải ngân nhưng chưa hoàn trả lại hoặc chưa được xóa nợ tại một thời điểm phát sinh từ việc vay của chủ thể được phép vay vốn theo quy định của pháp luật Việt Nam”. (khoản 4 Điều 2 Thông tư 56/2011/TT-BTC)

Chỉ có các quy định về cho vay và cho thuê tài chính mới sử dụng từ “dư nợ’, cụ thể là “dư nợ cho vay” (Điều 12 về “Mức cho vay” Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN) và “dư nợ cho thuê”. (Mục 4 Thông tư số 08/2001/TT-NHNN)

Còn lại, các văn bản quy phạm pháp luật về nghiệp vụ cấp tín dụng khác đều không gọi là “dư nợ”, mà gọi là “mức chiết khấu” (Điều 10 Quyết đinh 1325/2004/QĐ-NHNN), “số dư bảo lãnh” và “số dư bao thanh toán”. (Khoản 9 điều 4 Quyết định sô' 1096/2004/ QĐ-NHNN)

Khi cấp bảo lãnh cho khách hàng, thì số dư bảo lãnh chưa thể gọi đó là “dư nợ” bảo lãnh, nếu ngân hàng chưa phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thay cho khách hàng. Quy định về bảo lãnh ngân hàng viết số dư bảo lãnh đối vối một khách hàng và người có liên quan bao gồm số dư phát hành cam kết bảo lãnh, số dư phát hành cam kết bảo lãnh đối ứng, số dư phát hành cam kết xác nhận bảo lãnh cho khách hàng đó và người có liên quan. Còn “số dư nợ” để “phản ảnh số tiền tổ chức tín dụng bảo lãnh đã trả thay khách hàng nhưng chưa thu hồi được” theo diễn giải nội dung của tài khoản 241 “Các khoản trả thay khách hàng bằng đồng Việt Nam”.

Khoảng hơn một chục quyết định, thông tư về tỷ lệ bảo đảm an toàn của Ngân hàng Nhà nước suốt từ năm 1999 cho đến hết năm 2019 cũng đều quy định tương tự như trên.

Như vậy, theo tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ trước đến năm 2019, “dư nợ’ và “số dư” là hai khái niệm kinh tế và pháp lý khác nhau.

Cụ thể, “dư nợ cấp tín dụng” chỉ gồm ba khoản sau: dư nợ cho vay (bao gồm cả số dư bảo lãnh sau khi đã được chuyển thành nhận nợ vay), dư nợ cho thuê tài chính và “mức đầu tư vào trái phiếu” (Luật Các tổ chức tín dụng quy định không phải là hoạt động cấp tín dụng, nhưng được tính vào dư nợ cấp tín dụng).

Còn “số dư cấp tín dụng” bao gồm 4 khoản sau: số dư bảo lãnh, số dư chiết khấu, số dư bao thanh toán và “dư nợ cấp tín dụng” của ba khoản kể trên. Như vậy, “số dư cấp tín dụng” thì có thể bao gồm cả “dư nợ cấp tín dụng”, nhưng “dư nợ cấp tín dụng” thì không bao gồm “số dư cấp tín dụng”, tức không bao gồm số dư bảo lãnh, số dư chiết khấu và số dư bao thanh toán. Việc này cũng tương tự như ngân hàng chỉ gọi là “số dư tiền gửi” chứ không bao giờ gọi là “dư nợ tiền gửi”.

Vì “số dư” khác và rộng hơn “dư nợ”, nên giới hạn “số dư cấp tín dụng” cũng khác với giới hạn “dư nợ cấp tín dụng”. Tuy nhiên, pháp luật có thể quy định việc thu hồi phần “dư nợ” hoặc thu hồi “phần số dư cấp tín dụng vượt mức hạn chế, giới hạn” đối với “tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng”.

Giới hạn tín dụng là một trong những vấn đề quan trọng nhất của Luật Các tổ chức tín dụng. Theo quy định tại điểm a, khoản 6 và điểm a khoản 9 Điều 14 Nghị định 88/2019/NĐ-CP thì vi phạm giới hạn dư nợ cấp tín dụng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 80 - 120 triệu đồng hoặc bị tù từ 6 tháng đến 20 năm. (Điều 206 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017)

Như vậy nếu như thật sự cần giới hạn “số dư cấp tín dụng”, thì Luật phải quy định rõ là “tổng mức số dư cấp tín dụng” chứ không thể quy định là “tổng mức dư nợ cấp tín dụng”. Các tài liệu liên quan đến quá trình soạn thảo, góp ý, thẩm định, ban hành và phổ biến Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng không thấy bất cứ thông tin nào nhắc đến việc thay đổi hay thắt chặt giới hạn cấp tín dụng.

3. Pháp luật về giới hạn tín dụng là gì?

3.1. Giới hạn tín dụng là gì?

Giới hạn tín dụng hay còn được gọi là hạn mức tín dụng, được định nghĩa là mức cho vay tối đa của tổ chức tín dụng. Đồng thời cũng là số dư nợ tối đa trong thời điểm cụ thể (thông thường là các ngày cuối của quý hoặc ngày cuối của năm) đã được quy định rõ ràng, cụ thể trong kế hoạch tín dụng được mỗi ngân hàng xây dựng nên.

3.2. Pháp luật về giới hạn tín dụng

Giới hạn tín dụng là vấn đề đặc biệt quan trọng để bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Có nhiều mức giới hạn khác nhau về tín dụng như giới hạn tín dụng nói chung và các giới hạn nói riêng về cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, cho thuê tài chính.

Luật quy định, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng sau không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng (khoản 2, 4 Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017)

Thứ nhất, tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên, thanh tra viên đang kiểm toán, thanh tra tại tổ chức tín dụng;

Thứ hai, kế toán trưởng của tổ chức tín dụng, Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng quản trị, Trưỏng ban và thành viên khác của Ban kiểm soát, Giám đốc, Phó giám đốc và các chức danh tương đương của quỹ tín dụng nhân dân;

Thứ ba, cổ đông lớn, cổ đông sáng lập của tổ chức tín dụng;

Thứ tư, doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 về “Những trường hợp không được cấp tín dụng” của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;

Luật quy định, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với mỗi công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 10% và đối với tất cả các đối tượng này không được vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

Thứ năm, người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng.

Từ năm 2010 trở về trước, Luật quy định về giới hạn tín dụng đôì với mỗi tổ chức tín dụng gồm ba thành phần sau đây:

Thứ nhất, tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng;

Thứ hai, mức bảo lãnh, chiết khấu đối với một khách hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định;

Thứ ba, mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Theo quy định trên, giới hạn “số dư cấp tín dụng” đối với mỗi khách hàng có thể lên đến trên 55%, bao gồm bốn hoạt động cấp tín dụng sau: 15% dư nợ cho vay, 15% số dư bảo lãnh (gộp chung thì giảm xuống còn 25%), 15% số dư chiết khấu và 15% số dư bao thanh toán (chưa kể dư nợ cho thuê tài chính và việc mua trái phiếu doanh nghiệp). Trong đó, chỉ có số dư cho vay được gọi là “dư nợ”, còn số dư bảo lãnh, nếu bị chuyển thành dư nợ thì đã chuyển thành hoạt động cho vay bắt buộc (khi đó tính chung vào giới hạn 15% của dư nợ cho vay).

Từ năm 2011 trở đi, Luật quy định: “tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô” (25% đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng). Nếu đúng theo quy định về dư nợ và số dư cấp tín dụng, thì giới hạn 15% “tổng mức dư nợ cấp tín dụng” này chỉ gồm ba nghiệp vụ dư nợ cho vay, cho thuê tài chính (được gọi là dư nợ) và mua, đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp. Các “số dư” tín dụng khác không phải là “dư nợ”, nên phải nằm ngoài tổng mức giới hạn 15% kể trên.

Tuy nhiên, giới hạn an toàn hoạt động ngân hàng lại được quy định như sau: “tổng mức dư nợ cấp tín dụng bao gồm tổng số dư nợ cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, tổng mức mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, các nghiệp vụ cấp tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”. (khoản 12 Điều 3 Thông tư 22/2019/TT-NHNN)

Như vậy, quy định trên đã dồn tất cả các “số dư” thành “dư nợ’ và do vậy, tổng giới hạn cấp tín dụng đã chính thức đã bị giảm từ 55% xuống còn 15% đối với mỗi khách hàng.

4. Bảng tổng hợp giới hạn tín dụng của ngân hàng

Bảng tổng hợp giới hạn tín dụng của ngân hàng
phân loại theo từng nghiệp vụ và đối tượng

(Thông tư 36/2014/TT-NHNN)

TT

Tổng dư nợ cấp tín dụng

Giới hạn so với vốn ngân hàng

1

Đối với các đối tượng bị cấm cấp tín dụng

0% vốn tự có

2

Đốĩ với các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng

< 5% vốn tự có

3

Đôì với 1 khách hàng

< 15% vốn tự có

4

Đôì với 1 khách hàng và người có liên quan

< 25% vốn tự có

5

Đôì với mỗi công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát

• <10% vốn tự có

6

Đối với tất cả các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát

< 20% vốn tự có

7

Để đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp

< 5% vốn điều lệ

TT

Tổng dư nự cấp tín dụng

Giới hạn so với vốn ngân hàng

 

8

Để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu

< 5% vốn điều lệ

 

9

Trường hợp đặc biệt vượt mức cấp tín dụng tối đa vượt quá các giói hạn trên

Thủ tướng Chính phủ quyết định

 

         
 

Mức dư nợ cấp tín dụng trên bao gồm cả tổng mức mua, đầu tư vào trái phiếu do khách hàng, người có liên quan của khách hàng đó phát hành, nhưng không bao gồm các khoản cho vay từ nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là tổ chức tín dụng khác.

Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng và người có liên quan vượt quá giới hạn cấp tín dụng nêu trên thì tổ chức tín dụng được cấp tín dụng hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. (Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017)

Trên đây là phân tích của chúng tôi về nội dung "dư nợ và số dư tín dụng là gì? Pháp luật về giới hạn tín dụng".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)