1. Người phạm tội được hiểu nào?
Người phạm tội là cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi vi phạm quy định của pháp luật. Ví dụ, trong trường hợp làm giả biển số xe thì người phạm tội có thể là người tạo ra, sử dụng hoặc trợ giúp trong quá trình sử dụng biển số xe giả. Tuy nhiên, đối tượng cụ thể của tội phạm và trách nhiệm hình sự hoặc pháp lý sẽ phụ thuộc vào từng quy định của pháp luật trong quốc gia hoặc khu vực tương ứng.
Các quy định về người phạm tội thường bao gồm:
- Loại tội phạm: Quy định về các hành vi bị coi là tội phạm, ví dụ như giết người, trộm cắp, gian lận, buôn bán ma túy, và các hành vi vi phạm khác.
- Trách nhiệm hình sự: Xác định trách nhiệm và sự chịu trách nhiệm của người phạm tội trong việc vi phạm pháp luật. Điều này có thể bao gồm trách nhiệm hình sự cá nhân, trách nhiệm hình sự của công ty hoặc tổ chức, và trách nhiệm hình sự đối với người đứng đầu.
- Hình phạt: Quy định về các biện pháp trừng phạt áp dụng đối với người phạm tội. Điều này có thể bao gồm hình phạt tù, tiền phạt, công tác cộng đồng, giám sát, tịch thu tài sản, và các biện pháp khác.
- Quyền tự bào chữa: Bảo đảm quyền tự bào chữa của người phạm tội trong quá trình xét xử và phạt đối với họ. Điều này bao gồm quyền có luật sư, quyền tham gia phiên tòa, và quyền chứng minh bản thân vô tội.
Các quy định về người phạm tội thường được đặt ra nhằm duy trì trật tự, an ninh và công lý trong xã hội. Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng của mình và các quy định về người phạm tội có thể khác nhau tùy thuộc vào quy định pháp luật cụ thể của từng quốc gia.
2. Đưa người phạm tội đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam
Theo Điều 6 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì đối với những hành vi phạm tội xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì hiệu lực của Luật Hình sự Việt Nam có thể được áp dụng cho các trường hợp sau:
Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam mà được Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này. Quy định này cũng áp dụng đối với người nước ngoài không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.
Người nước ngoài hoặc pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Việt Nam hoặc theo quy định của các hiệp định quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam ở biển cả hoặc trong vùng trời nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp có quy định trong các hiệp định quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Theo Nghị định 133/2020/NĐ-CP thì việc thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù được quy định như sau:
- Thời hạn: Cơ quan đầu mỗi của Bộ Công an phải gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao trong thời hạn 05 ngày làm việc, tính từ khi nhận được quyết định thi hành quyết định tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.
- Thỏa thuận: Mục đích của việc gửi văn bản là thỏa thuận về thời gian, địa điểm, cách thức tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và kèm theo hồ sơ thi hành án từ nước chuyển giao về Việt Nam đề chấp hành án.
- Giấy tờ xuất nhập cảnh: Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao yêu cầu cấp giấy tờ xuất nhập cảnh cho người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài để về Việt Nam, thì Bộ Ngoại giao có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan đại diện ngoại giao có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy thông hành cho người này.
Văn bản này đảm bảo quy trình chuyển giao và tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam được thực hiện theo quy định và thông qua thỏa thuận giữa các cơ qua thỏa thuận giữa các cơ quan liên quan.
Ngoài văn bản nêu trên thì tổ chức phải tiếp nhận và áp giải người được chuyển giao về cơ sở giam giữ và hoàn chỉnh thủ tục thi hành án phạt tù tại Việt Nam, cần chuẩn bị thêm các giấy tờ sau để bổ sung vào hồ sơ đưa người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam đến trại giam chấp hành án:
- Quyết định tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án có hiệu lực pháp luật.
- Quyết định thi hành quyết định tiếp nhận chuyển giao của Tòa án.
- Các tài liệu theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án hình sự năm 2019
Bản dịch và chứng thực: Các tài liệu thi hành án phạt tù của nước ngoài phải có bản dịch ra tiếng Việt và phải được chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Nội dung trên đưa ra quy định về việc thực hiện hồ sơ đưa người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam và đảm bảo rằng các tài liệu liên quan được cung cấp và chứng thực đúng theo quy định pháp luật.
3. Đưa người phạm tội bị truy nã đang trốn ở nước ngoài về Việt Nam
Quy định về truy nã đối với công dân Việt Nam phạm tội tại Việt Nam và có hành vi trốn hoặc không biết rõ vị trí của họ được hướng dẫn như sau:
- Quy định về truy nã trong nước: Khi một công dân Việt Nam phạm tội tại Việt Nam trốn hoặc không biết rõ vị trí của họ, Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định truy nã theo khoản 1 Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Lệnh truy nã trong trường hợp này chỉ có giới hạn áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam.
- Quy định về truy nã đối tác quốc tế: Trong trường hợp có căn cứ hoặc bị nghi ngờ rằng công dân Việt Nam bỏ trốn ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Cơ quan điều tra phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền và Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol) để ban hành lệnh truy nã đỏ. Lệnh truy nã đỏ được ra dựa trên một lệnh bắt giữ hoặc một tuyết định tư pháp hợp lệ. Lệnh truy nã đỏ có phạm vi áp dụng toàn thế giới và thông báo tình trạng truy nã của tội phạm hoặc nghi phạm đó cho các quốc gia thành viên của Interpol.
- Giới hạn của lệnh truy nã đỏ: Lệnh truy nã đỏ không có tính chất lệnh bắt giữ quốc tế và không buộc bất kỳ quốc gia nào phải bắt giữ cá nhân đối tượng của lệnh truy nã đỏ. Việc bắt giữ và dẫn độ tội phạm phụ thuộc vào sự thiện chí của quốc gia thành viên. Tức là mỗi quốc gia có quyền tự quyết định liệu họ sẽ thực hiện việc bắt giữ và dẫn độ tội phạm đó hay không.
Sau khi ban hành lệnh truy nã đỏ thì quốc gia thành viên trên hệ thống mạng của Interpol phát hiện ra tội phạm có trách nhiệm thông báo và thực hiện việc dẫn độ về Việt Nam. Tại Khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 định nghĩa dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
- Yêu cầu dẫn độ: Điểm a khoản 2 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007 quy định cho phép cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài dẫn độ người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.
- Nguyên tắc chủ quyền và quy định thỏa thuận: Trên nguyên tắc chủ quyền, mỗi quốc gia có thẩm quyền pháp lý đối với công dân trong biên giới. Do đó, việc dẫn độ tội phạm cần tuân theo nguyên tắc, trình tự và nội dung đã thống nhất trong: Hiệp định dẫn độ giữa Việt Nam với nước đó; Hiệp ước tương trợ tư pháp về hình sự hoặc thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên của tổ chức Interpol.
- Truy nã và dẫn độ: Khi một tội phạm trốn ra nước ngoài, vẫn có thể bị truy nã và dẫn độ về Việt Nam để xét xử và thi hành án theo pháp luật Việt Nam.
Luật Minh Khuê hỗ trợ giải đáp các thắc mắc của khách hàng nhanh chóng thông qua các phương thức: tổng đài 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn