Tóm tắt nội dung yêu cầu tư vấn:

Kính gửi : Luật sư tư vấn. Hiện em đang gặp một số vấn đề liên quan đến việc đứng tên giấy phép kinh doanh mong luật sư tư vấn giúp, nội dung cụ thể như sau:

Khoảng giữa tháng 11-2018 một bác Hàn Quốc em quen (quen qua zalo và có gặp ăn uống vài lần) có nhờ em ký đứng tên cho doanh nghiệp của ông này, lĩnh vực hoạt động về khăn quàng cổ và thực phẩm ăn uống ( khi đấy em cũng không đọc hết nội dung bản hợp đồng đấy) . Khi đó ông đấy bảo với em chỉ mượn tên vài ngày và hứa xin việc cho em , do cả tin không va vấp xã hội nhiều và nghĩ rằng tên mình cũng chả có gì quan trọng nên em đã ký vào hợp đồng đó (khi này em đang đi học thêm tin học ở một trung tâm thì ông này kêu em ra ký hợp đồng ,tiếng hàn trước đó đã học hơn một năm nên có thể giao tiếp được).

Sau đó thì ông này cũng không có xin việc cho em và em cũng tự xin được việc ở công ty Hàn Quốc ở Bắc Giang.

Một thời gian khoảng mấy tháng sau em có hỏi ông về việc chuyển tên chưa (vì đinh ninh nghĩ rằng ông đã chuyển đổi rồi) thì ông bảo chưa chuyển, thực sự khi đó em rất sợ và biết rằng hành động ký tên vào tờ giấy trước đấy là không nên, mà muộn mất rồi cũng không biết làm thế nào.

Cuối Tháng 9 /2019 em kết hôn và sau đó thì sang Hàn. Vừa rồi ông đó có nói với em sẽ giải thể công ty trong tháng 3-2020, sau đó hết tháng 3 em có nhắn hỏi thì ông lại kêu trong tháng 4 sẽ chấm dứt mà tình hình này em rất lo và không thể tin tưởng đối phương thêm, không biết việc ký tên như vậy có ảnh hưởng lớn gì không ạ?

Việc không biết bất cứ thông tin về công ty cụ thể kinh doanh cái gì cũng như thông tin về chủ người hàn thực sự kia liệu có cách nào tìm được thông tin công ty thông qua họ tên và số chứng minh nhân dân không ạ ? Em chỉ nhớ công ty đó ở Hà Nội và có tên công ty luật mà ông này đã nhờ họ ?

Em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Kính thưa quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề đứng tên trên đăng ký kinh doanh khi thành lập Doanh nghiệp.

Vì chị không biết được thông tin về Doanh nghiệp mà người Hàn Quốc này nhờ đứng tên như Mã số Thuế /Mã số Doanh nghiệp hoặc tên doanh nghiệp (đầy đủ) nên bên em không thể tra cứu tổng thể toàn bộ các thông tin Doanh nghiệp này đã đăng ký trên Cổng thông tin quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp theo đường link : http://dangkykinhdoanh.gov.vn/ cho chị được.

Về mặt thực tế khi thành lập Doanh nghiệp thì, tùy từng loại hình Doanh nghiệp đăng ký là Công ty Cổ phần hay Công ty TNHH mà thông tin thể hiện trên Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, thông tin về người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp là thông tin sẽ được thể hiện trên giấy chứng nhận của các loại hình DN.

Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp luật dự kiến sẽ nộp một bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp cho Phòng đăng ký kinh doanh, Sở kế hoạch và đầu tư TP. Hà Nội hoặc có thể ủy quyền cho một cá nhân /tổ chức khác thực hiện thủ tục. Tùy từng loại hình đăng ký mà thành phần hồ sơ sẽ khác nhau, tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP có quy định:

“Điều 22. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh

1. Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.

2. Điều lệ công ty.

3. Danh sách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, danh sách cđông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần. Danh sách người đại diện theo ủy quyền đi với cđông nước ngoài là tổ chức.

4. Bản sao hợp lệ các giấy tờ sau đây:

a) Một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này đi với trường hợp người thành lập doanh nghiệp là cá nhân;

b) Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác, một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của người đại diện theo ủy quyền và văn bản ủy quyền tương ứng đối với trường hợp người thành lập doanh nghiệp là tổ chức;

c) Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với trường hợp doanh nghiệp được thành lập hoặc tham gia thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Điều 23. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

1. Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.

2. Điều lệ công ty.

3. Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của người đại diện theo ủy quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được tổ chức quản lý theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 78 Luật Doanh nghiệp.

Danh sách người đại diện theo ủy quyền và bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của từng đại diện theo ủy quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được tổ chức quản lý theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 78 Luật Doanh nghiệp.

4. Bản sao hợp lệ các giấy tờ sau đây:

a) Một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của chủ sở hữu công ty đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân;

b) Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác, Điều lệ hoặc tài liệu tương đương khác của chủ sở hữu công ty đối với trường hp chủ sở hữu công ty là tổ chức (trừ trường hợp chủ sở hữu công ty là Nhà nước);

c) Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với trường hợp doanh nghiệp được thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành.

5. Văn bản ủy quyền của chủ sở hữu cho người được ủy quyền đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là tổ chức.

Chưa kể, trong trường hợp, công ty có vốn đầu tư nước ngoài thì Doanh nghiệp còn phải làm thủ tục xin cấp Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư.”

Nếu trong trường hợp, chị đứng đại diện theo pháo luật của công ty này, theo quy định của luật Doanh nghiệp năm 2014:

Điều 13. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

3. Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

4. Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây:

a) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp;

b) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

5. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

6. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

7. Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Điều 14. Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:

a) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;

b) Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

c) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về việc người đại diện đó và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối tại các doanh nghiệp khác.

2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.

Vì thông tin chị cũng cấp không rõ ràng, nên dựa vào thực tế có thể đưa ra một số giả thiết như sau:

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế

Công ty này có thể là công ty có vốn đầu tư nước ngoài, mà theo quy định tại khoản 3 Điểu 12 Luật Doanh nghiệp 2020 thì:

“Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.”

Có thể, để thực hiện theo đúng quy định tại điều luật này nên Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bắt buộc phải luôn có ít nhất 1 người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam (thời điểm đăng ký thành lập là chị chưa qua Hàn). Đó có thể là lý do mà họ đặt vấn đề nhờ đứng tên làm đại diện theo pháp luật cho họ.

Theo đó, Doanh nghiệp có thể lựa chọn việc đăng ký 1 hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Nếu Doanh nghiệp đăng ký nhiều người đại diện theo pháp luật (trên 1 người) thì trong Điều lệ của Doanh nghiệp phải thể hiện cụ thể quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện. Và trong trường hợp này, khả năng các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp sẽ để cho người còn lại quyết định (không phải chị) và tất nhiên họ cũng sẽ là người chịu trách nhiệm trên phạm vi được giao. Vai trò của chị ở đây chỉ là hình thức để tuân thủ đúng quy định của Luật Doanh nghiệp về người đại diện theo Khoản 3 Điều 3. Nếu rơi vào trường hợp này thì chị cũng không cần phải quá lo lắng.

Trong trường hợp Doanh nghiệp này chỉ đăng ký 1 người đại diện pháp luật là chị thì phải kiểm tra lại xem, chị có ký văn bản ủy quyền nào, cho ai về thực hiện quyền đại diện theo pháp luật hay không? Nếu ở trường hợp này, mặc dù đã ủy quyền nhưng chị vẫn phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại của Doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2020, vi phạm các nghĩa vụ được quy định cụ thể trong điều lệ Doanh nghiệp.

Thứ hai, việc thay đổi người đứng đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp.

Trường hợp, Giám đốc – người đại diện theo pháp luật được hình thành bằng hình thức ký hợp đồng lao động với Doanh nghiệp thì chị có thể yêu cầu công ty về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động, thôi giữ chức vụ Giám đốc – người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp để tránh phát sinh những rắc rối có thể xảy ra khi bản thân chị thực tế không liên quan đến các hoạt động của Doanh nghiệp này.

Trong trường hợp Doanh nghiệp giải thể thì sẽ chấm dứt tư cách pháp nhân của doanh nghiệp và theo đó, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật cũng không còn. Tuy nhiên, quyết định giải thể sẽ phụ thuộc vào tình hình hoạt động của doanh nghiệp và tỷ lệ biểu quyết của các cổ đông/ thành viên góp vốn của Doanh nghiệp này mà không phải do mình yêu cầu hay có thể tự quyết định được.

Tốt nhất, chị nên tìm cách kiểm tra lại các thông tin về Doanh nghiệp để xác định vai trò của mình trong công ty này là gì, từ đó đối chiếu các quy định mới có cơ sở để tìm cách giải quyết, chấm dứt việc đứng tên đại diện theo pháp luật về mặt hình thức này.

Về việc tìm kiếm thông tin của công ty, nếu chị còn nhớ tên và địa chỉ của tổ chức thực hiện dịch vụ thành lập công ty cho chị, chị có thể liên hệ lại với họ, cung cấp cho họ các thông tin chị có thể có như : khoảng thời gian thành lập doanh nghiệp; loại hình doanh nghiệp thành lập; thông tin người đại diện theo pháp luật; ngành nghề hoạt động kinh doanh; tên và thông tin của các cổ đông/ người góp vốn… để họ có thể kiểm tra lại và cung cấp giúp chị các thông tin cần thiết về Doanh nghiệp mà họ đã đăng ký.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của Quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách qua dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Thủ tục thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh ?

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật doanh nghiệp - Công ty Luật TNHH Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hình thức của hợp đồng ủy quyền của người đại diện doanh nghiệp ?