1. Đứng xem đánh bạc có bị phạt ?

Thưa luật sư, nhà bên cạnh nhà tôi vừa rồi có đám cưới, anh em bên nhà đó tổ chức đánh bạc và bị bắt trên chiếu bạc là 10 triệu đồng. Tôi cũng có mặt tại hiện trường và bị công an mời về làm việc, tuy nhiên tôi chỉ là người đứng xem chứ không tham gia vào vụ đánh bạc. Vậy tôi có bị xử lý gì về hình sự không ạ ?
Xin cám ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Với thông tin bạn trao đổi, có thể liên hệ đến quy định của hành vi đồng phạm, điều 17 Bộ luật hình sự 2015 quy định về đồng phạm:


1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

Vậy, theo quy định nêu trên, nếu bạn đứng xem. không có hành vi cổ vũ, canh gác ... thì bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc. Ngược lại, nếu bạn có hành vi cổ vũ, cho những người trong chiếu bạc mượn tiền, canh gác,... thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với trường hợp đồng phạm theo tội đánh bạc quy định tại điều 321 BLHS 2015 như sau:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cá độ bóng đá có thể đối diện với hình phạt tù

2. Đánh bạc trong đám cưới ?

Xin chào Luật sư, mong Luật sư tư vấn cho em vấn đề này. Em đi ăn cưới và thấy có chơi xóc đĩa ăn tiền ở bên nhà làm cỗ, em đứng xem và cũng có chơi. Sau đó, chúng em bị Công an bắt đưa lên xã và đưa lên huyện nhốt giam 01 đêm.

Khi em đi ăn cưới có 590.000đ, chơi mất 250.000đ còn 340.000đ để trong túi, Công an cũng bắt bỏ tiền ra chiếu. Tổng thu được trong đám bạc là 7.320.000đ và ra quyết định truy tố theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự.

Chúng em đều vi phạm lần đầu và đánh bạc không thu phế vì không có ai tổ chức và chủ nhà câm điếc, lại là nhà đám. Bản thân em lý lịch trong sáng không vi phạm gì. Hỏi tội của em có phải phạt án treo hay bị xử như thế nào ?

Đánh bạc trong đám cưới bị xử phạt như thế nào?

Luật sư tư vấn tực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162

Trả lời:

1. Các yếu tố cấu thành tội đánh bạc là gì ?

Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp. Đánh bạc được hiểu là nhiều người (ít nhất từ hai người trở lên) cùng tham gia thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật.

- Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm này có một trong các dấu hiệu sau: Có sự thỏa thuận được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên.

Nếu tiền hay hiện vật có giá trị dưới 5.000.000 đồng thì phải thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 (tội tổ chức đánh bạc) đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 322 (tội tổ chức đánh bạc) chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Lưu ý: Về tiền hoặc hiện vật xác định đưa vào đánh bạc gồm:

– Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc.

– Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã hoặc sẽ được dùng để đánh bạc

– Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc

Khách thể: Hành vi phạm tội xâm phạm đến trật tự công cộng.

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Cần lưu ý: Việc tham gia hoặc thực hiện đánh bạc bao giờ cũng phải là có nhiều người (có hai người trở lên) cùng thực hiện.

2. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là gì ?

Theo Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì các tình tiết giảm nhẹ bao gồm:

- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

- Phạm tội do lạc hậu;

- Người phạm tội là phụ nữ có thai;

- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

- Người phạm tội tự thú;

- Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

- Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

- Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Các tình tiết giảm nhẹ đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

3. Căn cứ quyết định hình phạt là như thế nào ?

Khi đưa ra quyết định cuối cùng về mức phạt, khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, đồng thời, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội. Do đó, việc Bản thân bạn có lý lịch tốt cũng là cơ sở để Tòa Án xem xét.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn xử lý hành vi cá cược trên mạng?

3. Khi nào hành vi đánh bạc bị xử lý hình sự ?

Xin luật sư tư vấn giúp vấn đề sau ạ: chúng tôi gồm 20 người đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa. Tổng tiền ở dưới chiếu là 5.300.000 nghìn (mỗi người chỉ đánh có vài trăm nghìn/1 lần). Chúng tôi có bị truy tố trách nhiệm hình sự không ? Và mức án là như thế nào ạ ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Vấn đề của bạn chúng tôi xin giải quyết như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm hành chính:

Căn cứ theo khoản 1, 2 điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ - CP thì người nào có hành vi đánh bạc thì bị xử phạt như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:
a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;
b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;
c) Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;
d) Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

Thứ hai, trách nhiệm hình sự:

Theo khoản 1 điều 321 Luật hình sự năm 2015:

1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Theo khoản 1, điều 322 Bộ luật Hình sự 2015:

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần có giá trị 20.000.000 đồng trở lên;

c) Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; phân công người canh gác, người phục vụ, sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

d) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Như vậy, nếu số tiền dùng để đánh bạc trên hoặc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị phạt hành chính hoặc đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tính mà vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. ( Khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự 2015)

Còn nếu không thuộc trường hợp trên thì bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với hình thức là xóc đĩa với số tiền 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. ( Điểm a, khoản 2, điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ - CP)

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Chơi game quy đổi từ tiền ra điểm có vi phạm pháp luật không?

4. Quy định về tội đánh bạc ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Thưa luật sư, tôi bị bắt đánh bạc và tiền thu dưới chiếu là 4triệu8, và trước đây tôi bị phạt hành chính về tội đánh nhau cách đây 4 năm. Vậy hôm nay tôi xin hỏi văn phòng luật là nếu tôi phải ra tòa thì mức án xử phạt là bao nhiêu ? Có phải đi tù hay không ?
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Người gửi: L.K

Để biết mức xử phạt của bạn như thế nào ? Bạn căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội Đánh bạc:

1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Dấu hiệu để nhận biết tội đánh bạc là:

- Hành vi khách quan: là hành vi đánh bạc trái phép. Trong đó, đánh bạc được hiểu là hành vi tham gia vào các trò chơi mà trong đó, người thắng được nhận một khoản lợi ích vật chất từ người thua hoặc người tổ chức. Được coi là trò chơi khi việc thắng thua phụ thuộc vào khả năng của người chơi hoặc do ngẫu nhiên.

- Lỗi ở đây sẽ là cố ý.

Do đó, hành vi mua vé số trên mạng này thực chất là hành vi đánh bạc. Hành vi này xâm phạm đến trật tự công cộng mà trực tiếp là xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội, vì tội đánh bạc cũng là một tệ nạn của xã hội. Hành vi đánh bạc được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, vì vậy hành vi mua vé số này cũng là một hình thức của tội đánh bạc. Vì vậy, nếu bị phát hiện và cơ quan điều tra thấy rằng bạn có đủ các dấu hiệu chứng minh cho tội đánh bác, rất có thể bạn sẽ bị xử lý theo tội danh quy định tại điều 248 trên.

Trong trường hợp bạn không đủ dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc (điều 321 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017) thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định trên. Căn cứ vào nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình.

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:
a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;
b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;
c) Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;
d) Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;
b) Che giấu việc đánh bạc trái phép.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:
a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép;
b) Dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc;
c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;
d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép.

5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:
a) Làm chủ lô, đề;
b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;
c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;
d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi quy định tại Khoản 1; Khoản 2; Điểm a Khoản 3; Điểm b, c, d Khoản 4 và Khoản 5 Điều này.

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Tư vấn mở quán chơi poker tại hà nội ?