1. Có được giảm trừ gia cảnh với người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam
Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, được sửa đổi bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân 2012 và Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14, người nước ngoài có thể được hưởng giảm trừ gia cảnh tùy thuộc vào điều kiện cư trú và thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
Giảm trừ gia cảnh là một chính sách nhằm giảm bớt gánh nặng thuế cho người nộp thuế cá nhân cư trú. Theo đó, mức giảm trừ gia cảnh bao gồm hai thành phần chính: mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế và mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc.
Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (tức 132 triệu đồng/năm), trong khi mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng. Điều này có nghĩa là người nước ngoài cư trú trong lãnh thổ Việt Nam và có thu nhập chịu thuế sẽ được hưởng giảm trừ gia cảnh dựa trên mức giảm trừ này.
Tuy nhiên, quan trọng nhất là điều kiện cư trú của người nước ngoài. Nếu người nước ngoài được xác định là cá nhân cư trú trong lãnh thổ Việt Nam và có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, họ sẽ được hưởng quyền lợi này. Ngược lại, nếu họ là cá nhân không cư trú, thì không được áp dụng giảm trừ gia cảnh.
Do đó, để được hưởng giảm trừ gia cảnh, người nước ngoài cần đảm bảo rằng họ đáp ứng các điều kiện cư trú và thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam theo quy định của luật thuế hiện hành.
Như vậy thì dựa theo các quy định của pháp luật thì giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Vì vậy, người nước ngoài được giảm trừ gia đình khi được xác định là cá nhân cư trú trong lãnh thổ Việt Nam và có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp người nước ngoài thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam nhưng là cá nhân không cư trú thì không được giảm trừ gia cảnh.
2. Có được giảm trừ khi người phụ thuộc của người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam
Người phụ thuộc là những người được xác định theo quy định tại điểm d của khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Danh sách này bao gồm những đối tượng đa dạng, nhằm bảo đảm quyền lợi và chính sách hỗ trợ cho những người có mức sống khó khăn, đặc biệt là trong cộng đồng gia đình và họ hàng của người nộp thuế. Dưới đây là mô tả chi tiết về những người được coi là người phụ thuộc:
- Con: Con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú, con riêng của vợ, con riêng của chồng. Con dưới 18 tuổi (tính đủ theo tháng). Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động. Con đang theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề. Điều này bao gồm cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông, kể cả thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12, và không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá 01 triệu đồng/tháng.
- Vợ hoặc chồng của người nộp thuế: Phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 01 triệu đồng.
- Người trong độ tuổi lao động: Phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: Bị khuyết tật, không có khả năng lao động. Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 01 triệu đồng.
- Người ngoài độ tuổi lao động: Phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 01 triệu đồng.
- Cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp: Đối với người trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động, phải đáp ứng các điều kiện như người trong độ tuổi lao động nêu trên.
- Cá nhân khác gồm: Anh ruột, chị ruột, em ruột của người nộp thuế. Ông nội, bà nội; ông ngoại, bà ngoại; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột của người nộp thuế. Cháu ruột của người nộp thuế bao gồm Con của anh ruột, chị ruột, em ruột. Người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.
Những quy định này nhằm đảm bảo rằng những người này sẽ được hưởng các chính sách, ưu đãi và hỗ trợ phù hợp để nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm thiểu gánh nặng tài chính.
Như vậy thì đối với người phụ thuộc thì không bắt buộc người phụ thuộc đó phải sinh sống tại Việt Nam mà chỉ cần đáp ứng được các quy định trên thì sẽ được giảm trừ người phụ thuộc theo quy định của pháp luật. Việc không giảm trừ chỉ áp dụng khi đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú tại Việt Nam
3. Người nước ngoài được xem là cá nhân cư trú khi nào?
Căn cứ dựa theo quy định tại Điều 2 của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 thì có quy định về cá nhân cư trú, theo đó thì cá nhân cư trú đáp ứng một trong các điều kiện sau đây của chúng tôi:
Cá nhân cư trú là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực thuế và quản lý nguồn thu nhập cá nhân, đặc biệt là khi xác định quyền và trách nhiệm thuế đối với người nộp thuế. Để được xem xét là cá nhân cư trú, người dân cần phải đáp ứng ít nhất một trong những điều kiện được quy định cụ thể dưới đây:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục: Điều này đồng nghĩa với việc cá nhân phải duy trì sự hiện diện tại Việt Nam trong khoảng thời gian dài và đều đặn, không gián đoạn, ít nhất là 183 ngày tính từ đầu năm dương lịch. Nếu không đủ thời gian này, người đó có thể vẫn được coi là cư trú nếu có thể chứng minh sự hiện diện liên tục trong 12 tháng kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Quy định về việc có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam, đặt ra để xác định tình trạng cư trú của cá nhân và áp đặt trách nhiệm nộp thuế đối với những người có hoạt động kinh doanh, lao động, hoặc thu nhập từ các nguồn khác tại Việt Nam.
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam: Người nộp thuế cần có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. Điều này đòi hỏi sự liên tục và ổn định về mặt địa lý, không chỉ là một lần đi lại ngắn hạn.
Quy định này nhằm đảm bảo rằng người có thu nhập từ hoạt động kinh doanh hoặc lao động tại Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm nộp thuế theo quy định của pháp luật, tạo nền tảng cho việc quản lý thuế và đảm bảo công bằng trong việc phân phối gánh nặng thuế giữa các cá nhân. Đồng thời, quy định này cũng đặt ra các tiêu chí rõ ràng giúp người nộp thuế và cơ quan thuế có cơ sở để xác định tình trạng cư trú của mỗi cá nhân một cách công bằng và minh bạch.
Theo đó thì người nước ngoài chỉ cần có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương dịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam thì sẽ được xác định là cá nhân cư trú theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nếu như các bạn còn có những vướng mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài tư vấn 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ chi tiết nhất có thể về giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân
Tham khảo thêm bài viết sau đây của chúng tôi: Mức giảm trừ gia cảnh với thuế thu nhập cá nhân mới năm 2023