1. Được thanh tra các quy định về phòng chống tham nhũng với tổ chức tín dụng hay không?
Theo quy định tại Điều 56 của Nghị định 59/2019/NĐ-CP, việc thanh tra thực hiện các quy định về phòng chống tham nhũng áp dụng cho một số đối tượng cụ thể. Các đối tượng được áp dụng thanh tra gồm:
- Công ty đại chúng: Các doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức công ty đại chúng, bao gồm cả công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là những tổ chức kinh doanh mở cổ phần hoặc hạn chế và có quyền lợi, nghĩa vụ được chia sẻ và phân phối theo tỷ lệ vốn góp của các cổ đông.
- Tổ chức tín dụng: Đây là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, cung cấp các dịch vụ tài chính như cho vay, mở tài khoản ngân hàng, cung cấp thẻ tín dụng và các dịch vụ liên quan. Tổ chức tín dụng thường được thành lập dưới hình thức ngân hàng, công ty tài chính hoặc công ty bảo hiểm.
- Tổ chức xã hội: Đây là các tổ chức được thành lập và hoạt động trong lĩnh vực xã hội với mục tiêu hỗ trợ, phục vụ cộng đồng và từ thiện. Các tổ chức xã hội này được thành lập hoặc phê duyệt điều lệ bởi Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, và có quyền huy động các khoản đóng góp từ Nhân dân để hoạt động từ thiện.
Việc thanh tra đối với các đối tượng này nhằm kiểm tra, giám sát và đảm bảo việc thực hiện các quy định về phòng chống tham nhũng. Cơ quan thanh tra sẽ tiến hành kiểm tra các hoạt động, giao dịch, quản lý tài chính, nguồn lực và các quy trình liên quan để đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả và tránh sự lạm dụng quyền lực, tham nhũng trong các tổ chức này.
Ngoài ra, việc thanh tra còn có vai trò tìm ra các vi phạm, sai phạm và đề xuất các biện pháp xử lý, sửa chữa, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc truy thu các khoản tiền vi phạm. Điều này giúp tăng cường sự minh bạch, trách nhiệm và tính công bằng trong quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức trong việc ngăn chặn và xử lý tham nhũng.
2. Quyết định thanh tra tổ chức tín dụng được ban hành khi có căn cứ nào?
Theo quy định tại Điều 58 Nghị định 59/2019/NĐ-CP về căn cứ quyết định thanh tra, việc ra quyết định thanh tra phải dựa trên một trong các căn cứ sau:
- Căn cứ vào dấu hiệu thực hiện không đúng quy định về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, gồm:
+ Không ban hành quy định: Trường hợp không có việc ban hành quy định nào liên quan đến việc phòng ngừa tham nhũng, dẫn đến sự thiếu sót trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.
+ Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các biện pháp theo quy định: Khi không thực hiện đúng hoặc không thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được quy định tại các quy định pháp luật liên quan, gây ra hậu quả tiêu cực trong công tác phòng ngừa tham nhũng.
+ Có thực hiện nhưng không kiểm tra, giám sát việc thực hiện theo quy định: Trong trường hợp đã có các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được thực hiện, nhưng không có sự kiểm tra, giám sát đúng quy định, dẫn đến việc không đảm bảo hiệu quả trong công tác phòng ngừa tham nhũng.
- Căn cứ vào yêu cầu giải quyết phản ánh, tố cáo về hành vi vi phạm trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng: Khi có phản ánh, tố cáo về những hành vi vi phạm liên quan đến việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, cần tiến hành thanh tra để làm rõ sự việc, xác minh thông tin và đưa ra quyết định xử lý đúng theo quy định của pháp luật.
Các căn cứ trên là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thanh tra, nhằm đảm bảo sự tuân thủ và thực hiện đúng quy định về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Việc thanh tra sẽ giúp phát hiện, xử lý và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm liên quan đến tham nhũng, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, minh bạch và không tham nhũng.
3. Thẩm quyền thanh tra tổ chức tín dụng thuộc về ai?
Căn cứ vào quy định tại Điều 59 của Nghị định 59/2019/NĐ-CP về thẩm quyền thanh tra đối với tổ chức tín dụng, ta có các điểm sau đây:
- Thanh tra bộ quản lý lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh chính của tổ chức tín dụng có thẩm quyền thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với tổ chức tín dụng đó, trừ khi các trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 và khoản 4 của Điều 59 Nghị định 59/2019/NĐ-CP xảy ra.
- Thanh tra tỉnh có thẩm quyền thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với tổ chức tín dụng có trụ sở chính đóng trên địa bàn tỉnh, khi các căn cứ quy định tại Điều 58 Nghị định 59/2019/NĐ-CP xảy ra mà Thanh tra bộ quản lý lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh chính của tổ chức tín dụng đó không tiến hành thanh tra. Quyết định thanh tra phải được gửi đến Thanh tra Chính phủ và Thanh tra bộ có thẩm quyền.
Trước khi đưa ra quyết định thanh tra, Chánh Thanh tra tỉnh phải trao đổi với Chánh Thanh tra bộ có thẩm quyền. Trường hợp không đạt được sự thống nhất, báo cáo sẽ được gửi đến Tổng Thanh tra Chính phủ để xem xét và quyết định.
- Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ, và có sử dụng các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện; đối với doanh nghiệp, tổ chức khi được Thủ tướng Chính phủ giao hoặc khi các căn cứ quy định tại Điều 58 Nghị định 59/2019/NĐ-CP xảy ra mà các Cơ quan thanh tra quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 của Điều 59 Nghị định 59/2019/NĐ-CP không tiến hành thanh tra.
Thẩm quyền và trách nhiệm của thanh tra được hướng dẫn chi tiết trong Chương II của Thông tư 07/2021/TT-TTCP.
Trong trường hợp có sự chồng chéo, trùng lắp trong quá trình thanh tra việc thực hiện các quy định về phòng chống tham nhũng, các Cơ quan thanh tra sẽ tiến hành phối hợp, trao đổi và thống nhất các biện pháp xử lý để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch của quá trình thanh tra.
Theo Điều 63 của Nghị định 59/2019/NĐ-CP, khi phát hiện sự chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các Thanh tra bộ hoặc giữa Thanh tra bộ với Thanh tra tỉnh, quy định rõ vai trò và trách nhiệm của các Cơ quan thanh tra. Nếu có sự chồng chéo giữa các Thanh tra bộ, Thanh tra thuộc bộ có chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực hoạt động chính của tổ chức tín dụng được thanh tra sẽ tiến hành quá trình thanh tra. Trong trường hợp có sự chồng chéo giữa Thanh tra bộ và Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ sẽ tiến hành quá trình thanh tra.
Tuy nhiên, nếu các Cơ quan thanh tra không thống nhất được về việc giải quyết sự chồng chéo hoặc có doanh nghiệp, tổ chức phản ánh, kiến nghị về việc chồng chéo trong hoạt động thanh tra, Tổng Thanh tra Chính phủ sẽ có vai trò quan trọng trong việc xem xét và quyết định cuối cùng. Tổng Thanh tra Chính phủ sẽ xem xét các thông tin, tài liệu liên quan và đưa ra ý kiến bằng văn bản về việc xử lý sự chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung và thời gian thanh tra trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, kiến nghị hoặc phản ánh.
Qua việc phối hợp, trao đổi và thống nhất giữa các Cơ quan thanh tra, đồng thời sự can thiệp và quyết định của Tổng Thanh tra Chính phủ, mục tiêu chính là đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của quá trình thanh tra về phòng chống tham nhũng trong các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp, tổ chức khác được thực hiện. Điều này cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và sự tuân thủ đúng quy trình và quy định pháp luật.
Xem thêm >> Biện pháp phòng chống tham nhũng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước
Liên hệ hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn