- 1. Hành vi giả mạo công an để tống tiền chạy án là cấu thành tội gì?
- 2. Hành vi giả mạo công án để tống tiền người phạm tội bị xử lý như thế nào?
- 3. Cấu thành của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- 3.1. Mặt chủ quan của tội phạm
- 3.2. Mặt khách quan của tội phạm
- 3.3. Chủ thể của tội phạm
- 3.4. Khách thể của tội phạm
1. Hành vi giả mạo công an để tống tiền chạy án là cấu thành tội gì?
Mới đây các bài báo có đưa tin về một vụ án hết sức tinh vi của một đối tượng dám giả mạo là cán bộ công an để tiến hành yêu cầu cơ sở khám chữa bệnh đang có hành vi vi phạm pháp luật đưa tiền cho người này để họ xóa án. Đối tượng đã tự xưng danh là công an Thành phố XX yêu cầu chủ phòng khám phải đưa một số tiền lớn lên đến trăm triệu đồng và còn đe dọa nếu không đưa thì sẽ bị bắt giữ về hành vi sai phạm của mình trong lĩnh vực khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Vì cả tin nên chủ phòng khám đã tìm mọi cách để đưa đủ số tiền cho đối tượng lừa đảo này để chạy án.
Xét thấy hành vi của đối tượng nêu trên là giả mạo cán bộ công an để lấy tiền của người dân, chưa cần biết người bị tống tiền có vi phạm pháp luật hay không. Hành vi này có dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Bởi hành vi của đối tượng này ở đây là đang cung cấp thông tin sai sự thật (tự xưng là công an) nhằm cho nạn nhân tin đó là thật và giao hết số tiền, tài sản của mình cho đối tượng đó vì mục đích mà đối tượng đó bịa ra để lừa tiền.
Với hành vi như vậy, đối tượng giả mạo công an để chạy án hoàn toàn có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu như đủ các yếu tố cấu thành của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể sẽ được Luật Minh Khuê phân tích chi tiết tại mục tiếp theo của bài viết:
2. Hành vi giả mạo công án để tống tiền người phạm tội bị xử lý như thế nào?
Nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì đối tượng giả mạo sẽ bị xử lý hành chính như sau: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP thì người nào dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả sẽ bị phạt tiền từ 02 triệu đồng đến 03 triệu đồng. Bên cạnh đó đối tượng còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện phạm tội
Nếu như hành vi đã đủ để cấu thành tội phạm của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì đối tượng lừa đảo sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này. Theo đó:
Nếu như trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà nay lại vi phạm
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ
- Tài sản là di vật, cổ vật
Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Có tổ chức
- Có tính chất chuyên nghiệp
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng
- Tái phạm nguy hiểm
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt
Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh
Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Bên cạnh đó, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
3. Cấu thành của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu cần và đủ, đặc trưng cho tội phạm cụ thể được quy định trong luật
3.1. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra.
3.2. Mặt khách quan của tội phạm
Đây là yếu tố quan trọng nhất trong cấu thành tội phạm của loại tội này. Xét về hành vi thì phải có dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối:
Dùng thủ đoạn gian dối ở đây được hiểu là đưa ra những thông tin giả, sai sự thật nhưng làm cho người khác tin đó là thật và tự động giao tài sản cho người có hành vi lừa đảo. Đưa ra thông tin sai sự thật có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như lời nói, bằng chữ viết, bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác giao dịch khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản trái phép.
Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nằm ở mục đích của hành vi. Người phạm tội bằng các thủ đoạn gian dối của mình để nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, làm cho người đang có tài sản hợp pháp bị nhầm tưởng, tin vào các thông tin sai sự thật đó và tự nguyện giao tài sản cho người lừa đảo. Đây là dấu hiệu quan trọng để định tội danh, phân biệt với các tội danh khác có đặc điểm về hành vi tương đương.
Bên cạnh đó còn có những dấu hiệu khác: Giá trị của tài sản bị chiếm đoạt phải từ 02 triệu đồng trở lên thì người thực hiện hành vi mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu tài sản chiếm đoạt dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
3.3. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
3.4. Khách thể của tội phạm
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Nhìn chung có thể thấy, hành vi của đối tượng giả mạo công an để nhằm tống tiền chạy án của cơ sở khám chữa bệnh có sai phạm trong lĩnh vực bảo hiểm y tế là một hành vi vi phạm pháp luật. Nếu xét thấy giá trị, số tiền bị lừa đảo ở đây dưới 02 triệu đồng và không thuộc một trong các trường hợp tại khung hình phạt đầu tiên của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì đối tượng sẽ chỉ dừng lại ở việc bị xử lý vi phạm hành chính. Nếu như tài sản lừa đảo trị giá từ 02 triệu đồng trở lên thì hoàn toàn có thể bị khởi tố hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như đã phân tích.
Và trên đây là toàn bộ thông tin về Giả công an tống tiền chủ phòng khám vụ án trục lợi bảo hiểm thì cấu thành tội gì? do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách tham khảo thông tin pháp lý về trường hợp thực tế. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy nhấc máy và gọi ngay cho Luật sư Công ty Luật Minh Khuê theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hỗ trợ nhanh chóng, kịp thời!
Nếu quý khách có nhu cầu muốn báo phí dịch vụ, quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin phản hồi sớm nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!