1. Thế nào là Tố tụng hình sự?

Tố tụng hình sự là quá trình thực hiện các thủ tục và quy trình để xác định xem một hành vi cụ thể có vi phạm luật hình sự hay không, liệu người thực hiện hành vi đó có chịu trách nhiệm hình sự hay không, cùng với một số vấn đề liên quan đến thực thi án hình sự.

Trong quá trình tố tụng hình sự, xuất hiện những mối quan hệ xã hội phức tạp giữa các tác nhân khác nhau bao gồm: cơ quan thực hiện tố tụng, các bên tham gia vào quá trình tố tụng và cả người bị tố tụng. Những mối quan hệ này được điều chỉnh bởi luật tố tụng hình sự, bao gồm việc quy định quyền và trách nhiệm của cơ quan thực hiện tố tụng cũng như của các bên tham gia vào quá trình tố tụng.

2. Các giai đoạn của Tố tụng hình sự

Dựa trên "Phạm vi điều chỉnh" trong Luật Tố tụng hình sự, ta có thể nhận thấy các pha của quy trình tố tụng hình sự được xác định như sau:

- Giai đoạn 1: Tiếp nhận và xử lý thông tin về tội phạm.

- Giai đoạn  2: Khởi tố và tiến hành điều tra.

- Giai đoạn  3: Truy tố tội phạm.

- Giai đoạn  4: Tiến hành phiên xử.

Các quy định chi tiết trong từng pha này nhằm đảm bảo rằng quá trình giải quyết vụ án diễn ra một cách khách quan, công bằng, và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của tất cả các bên liên quan.

3. Giải đáp một số vướng mắc thường gặp trong Tố tụng hình sự

Vào ngày 30/6/2020, Công văn số 89/TANDTC-PC được ban hành bởi Tòa án nhân dân tối cao để thông báo kết quả giải đáp trực tuyến về một số khúc mắc thường gặp trong quá trình xét xử, bao gồm việc giải quyết những vướng mắc thông thường trong Tố tụng hình sự như sau:

(1) Trong trường hợp bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội nằm trong thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, tuy nhiên khi thụ lý vụ án, các thẩm phán phát hiện rằng bị cáo đã từng bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình trong một vụ án khác, và bản án này đã được thực thi và có hiệu lực pháp luật, thì vấn đề thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ án hình sự sẽ được tiến hành như thế nào?

Về tình huống này, việc hướng dẫn đã được trình bày trong Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có sự thay đổi, bổ sung so với phiên bản trước đó, tức là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Do vậy, khi bị cáo bị truy tố về tội hoặc các tội nằm trong thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, tuy thụ lý vụ án phát hiện rằng bị cáo đã từng bị kết án áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình trong vụ án khác, và án phạt đó đã có hiệu lực pháp luật, thì Toà án nhân dân cấp huyện sẽ có trách nhiệm thông báo với Toà án nhân dân cấp tỉnh về tình huống này. Sau đó, Toà án nhân dân cấp tỉnh sẽ cùng với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tiến hành rút hồ sơ vụ án lên để tiến hành truy tố và xét xử tại cấp tỉnh.

(2) Dựa vào khoản 3 của Điều 298 trong Bộ luật Tố tụng hình sự, chúng ta có thể thấy rằng quá trình xét xử đang gặp một trường hợp đặc biệt liên quan đến việc giới hạn xét xử. Trong tình huống mà Tòa án phát hiện bị cáo phạm một tội danh nặng hơn so với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, Tòa án có quyền quyết định trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát truy tố lại, đồng thời cần thông báo chi tiết và rõ ràng về lý do cho bị cáo, người đại diện của bị cáo hoặc người bào chữa. Trong trường hợp Viện kiểm sát vẫn duy trì tội danh ban đầu, Tòa án sẽ được quyền tiến hành xét xử bị cáo với tội danh nặng hơn.

Tuy nhiên, một câu hỏi nảy ra: liệu quy định này có áp dụng đối với các tội phạm khác nhau về khách thể hay không? Ví dụ, xét trong một vụ án hình sự có hai bị cáo: bị cáo A bị Viện kiểm sát truy tố về tội danh "Che dấu tội phạm", trong khi bị cáo B bị truy tố về tội danh "Giết người". Tòa án sau khi xem xét thấy bằng chứng cho thấy bị cáo A cũng tham gia vào tội "Giết người" như đồng phạm. Tuy Tòa án đã trả hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát truy tố lại, nhưng Viện kiểm sát không thực hiện theo.

Trong tình huống này, Tòa án sẽ tiến hành xem xét xử bị cáo A về tội danh nào? Khoản 3 của Điều 298 trong Bộ luật Tố tụng hình sự đã rõ ràng quy định Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn. Cụ thể, quy định này có thể áp dụng cho bất kể tội danh nào, miễn là có đủ căn cứ kết tội bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các Tòa án cần tuân thủ các quy định về quyền bào chữa, sự tham gia của thành viên Hội đồng xét xử và các điều khoản khác được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, để đảm bảo sự công bằng và thỏa đáng trong quá trình xét xử.

(3) Trong tình huống của một vụ án hình sự, khi có bị can hoặc bị cáo đang trong quá trình thi hành án hình phạt tù ở một vụ án trước đó hoặc đang thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, một thách thức pháp lý nảy ra là liệu Tòa án cần phải ra Quyết định tạm giam để có căn cứ trích xuất bị can, bị cáo và đưa họ đến phiên tòa.

Tuy văn bản hướng dẫn Thông tư liên tịch 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 30/5/2013 và Thông tư liên tịch 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2018 không đề cập rõ đến tình huống này, nhưng có thể dựa vào những quy định hiện hành và nguyên tắc của luật để đưa ra giải đáp.

- Trong trường hợp bị can hoặc bị cáo đang thi hành án tù từ một vụ án trước đó, quy định trong Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự không yêu cầu ra quyết định tạm giam. Thay vào đó, Tòa án có thể ra quyết định trích xuất để phục vụ quá trình xét xử mà không cần đặt vào tình trạng tạm giam.

- Đối với trường hợp bị can hoặc bị cáo đang thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Tòa án có thể yêu cầu Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải đưa ra quyết định tạm đình chỉ thi hành biện pháp xử lý hành chính để phục vụ việc xét xử. Tùy theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, sau đó Tòa án sẽ cân nhắc áp dụng các biện pháp tạm giam hoặc biện pháp ngăn chặn khác, tuỳ thuộc vào từng tình huống cụ thể và theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cần nhấn mạnh rằng, việc áp dụng quy định luật trong trường hợp này cần phải tôn trọng quyền bào chữa, tuân thủ nguyên tắc công bằng và thỏa đáng để đảm bảo sự minh bạch và chính xác trong quá trình xét xử.

(4) Khi Viện kiểm sát rút một phần truy tố trong phiên tòa, câu hỏi nảy ra liệu liệu bản án có cần xem xét và đánh giá tính có căn cứ của việc rút truy tố từ phía Viện kiểm sát hay không?

Trước đây, Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã cung cấp hướng dẫn trong vấn đề này thông qua "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự" và Công văn số 328/NCPL ngày 22-6-1993 của Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có sự thay đổi hoặc bổ sung so với phiên bản năm 2003. Vì vậy, trong trường hợp tại phiên tòa, sau khi xem xét và thẩm tra, Kiểm sát viên quyết định rút truy tố chỉ đối với một hoặc một số tội danh và duy trì quyết định truy tố đối với các tội danh khác, hoặc khi Kiểm sát viên chỉ quyết định rút truy tố đối với một hoặc một số bị cáo trong khi duy trì quyết định truy tố đối với bị cáo hoặc những bị cáo còn lại, đó là tình huống mà Viện kiểm sát đã rút một phần quyết định truy tố.

Trong tình huống này, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử toàn bộ vụ án và có thể chấp nhận hoặc từ chối việc rút truy tố đó. Nguyên tắc để quyết định chấp nhận hoặc từ chối được ghi chép và thể hiện trong bản án, mà cơ sở là đảm bảo tính minh bạch và sự công bằng trong quá trình xét xử.

(5) Ngay sau khi Tòa án tuyên án, tuy nhiên bản án vẫn chưa được coi là có hiệu lực pháp luật và quyết định về việc thi hành án chưa được ban hành. Trong trường hợp người được án treo không hiện diện tại địa chỉ cư trú hoặc vi phạm các quy định nội quy, quy chế của địa phương cư trú, liệu vi phạm này có thể coi là vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự hay không?

Thực tế, tình huống này được xem xét là một vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 2019. Bởi vì khoảng thời gian thử thách của người được án treo bắt đầu tính từ thời điểm tuyên án sơ thẩm và việc này tuân theo quy định tại khoản 5 của Điều 65 trong Bộ luật Hình sự 2015 để thực hiện xử lý.

(6) Khi người bị kết án được Tòa án quyết định hoãn chấp hành án phạt tù - điều này xảy ra khi họ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc mang thai, và thời gian hoãn chưa kết thúc - nhưng người này tự nguyện xin thực hiện việc chấp hành án, liệu cơ quan có thẩm quyền có thể chấp nhận yêu cầu này?

Trong tình huống này, người đó cần phải nộp đơn gửi Chánh án Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Chánh án sau đó sẽ đưa ra quyết định thi hành án với nội dung ghi rõ ràng, thay thế cho quyết định hoãn chấp hành án phạt tù ban đầu.

Bài viết liên quan: Sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự là gì? 

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!