1. Khái niệm "đất cơ sở tôn giáo"

Căn cứ vào khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013, định nghĩa về "cơ sở tôn giáo": "Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo". Có thể thấy rằng, cơ sở tôn giáo là một trong những người sử dụng đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Đặc điểm của cơ sở tôn giáo, gồm:

- Đất cơ sở tôn giáo thuộc nhóm đất phi nông nghiệp (điểm g khoản 1 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013).

- Đất cơ sở tôn giáo gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động.

- Đất cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang được sử dụng ổn định.

- Người đứng đầu cơ sở tôn giáo đối với việc sử dụng đất đã giao cho cơ sở tôn giáo chịu trách nhiệm trước nhà nước đối với việc sử dụng đất.

Như vậy, đất được xem đất cơ sở tôn giáo nếu đáp ứng điều kiện sau: đất đó được sử dụng vào mục đích xây dựng các thánh thất, chùa, nhà thờ,...và người sử dụng đất đó phải là tổ chức tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động. Khi một tổ chức tôn giáo tồn tại, đang hoạt động nhưng không được nhà nước công nhận và cho phép hoạt động thì đất đó không được xem là đất cơ sở tôn giáo.

2. Khái niệm "đất tín ngưỡng"

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 160 Luật Đất đai năm 2013, "Đất tín ngưỡng bao gồm đất có công trình đình đền, miếu, am, từ đường nhà thờ họ. Việc sử dụng đất tín ngưỡng phải đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch xây dựng đô thị; quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt". 

Phân biệt đất cơ sở tôn giáo với đất tín ngưỡng, ta có thể nhìn nhận những công trình trên đất đó là gì (trong trường hợp đất đó được sử dụng một cách hợp pháp). Đất cơ sở tôn giáo gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động. Còn đất tín ngưỡng là đất có đình, miếu, đền, nhà thờ họ, từ đường,...

3. Nguồn gốc hình thành cơ sở tôn giáo

- Nhà nước giao quyền sử dụng đất 

Nhà nước giao quyền sử dụng đất là việc nhà nước đưa ra quyết định giao đất cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng đất. Cơ sở tôn giáo khi được nhà nước giao đất không phải trả tiền sử dụng đất. Để giao đất cho cơ sở tôn giáo thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào chính sách tôn giáo của nhà nước, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết định diện tích đất được giao cho cơ sở tôn giáo.

Luật Đất đai năm 2013 không quy định hạn mức cụ thể cho cơ sở tôn giáo, mà hạn mức này sẽ giao cho cơ quan Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của địa phương để xác định sao cho phù hợp với từng địa phương.

- Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất

Cơ sở tôn giáo được nhận quyền sử dụng đất thông qua việc nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang được sử dụng một cách ổn định. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ điều kiện như: được nhà nước cho phép hoạt động, đất không có tranh chấp, đất không phải là đất chuyển nhượng hay nhận tặng cho sau ngày 01 tháng 07 năm 2004.

Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất có chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải tự rà soát, kê khai việc sử dụng đất và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh những vấn đề sau:

+ Tổng diện tích đất đang sử dụng

+ Diện tích đất cơ sở tôn giáo phân theo từng nguồn gốc: đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, mượn của tooe chức, hộ gia đình, cá nhân, tự tạo lập, nguồn gốc khác

+ Diện tích đất mà cơ sở tôn giáo đã cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mượn, ở nhờ, thuê

+ Diện tích đất đã bị người khác lấn, chiếm

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất kiểm tra thực tế, xác định ranh giới cụ thể của thửa đất và quyết định xử lý theo quy định sau đây:

+ Diện tích đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của cơ sở tôn giáo và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó để giải quyết nhằm bảo đảm quyền lợi về sử dụng đất của các bên phù hợp với thực tế;

+ Diện tích đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì giải quyết như đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhân khác theo quy định của pháp luật đất đai;

+ Diện tích đất mở rộng cơ sở tôn giáo mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; bị lấn, bị chiếm; đang có tranh chấp thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết dứt điểm theo quy định của pháp luật.

Diện tích đất của cơ sở tôn giáo sau khi đã xử lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 Nghị đinh 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 và có đủ điều kiện quy định tại Khoản 4 Điều 102 của Luật Đất đai năm 2013 (được nhà nước cho phép hoạt động, đất không có tranh chấp, đất không phải là đất chuyển nhượng hay nhận tặng cho sau ngày 01 tháng 07 năm 2004) thì cơ sở tôn giáo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất với thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài.

Trường hợp đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện (kể cả trường hợp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho trước ngày 01 tháng 7 năm 2004) thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức và thời hạn sử dụng đất tương ứng với mục đích đó như đối với hộ gia đình, cá nhân.

- Được hình thành thông qua kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai; quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân; quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án

Cơ sở tôn giáo được nhận quyền sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân; quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành.

4. Phân loại tranh chấp cơ sở tôn giáo

Thứ nhất, tranh chấp đất đai đối với các loại đất có nguồn gốc tôn giáo

Đất có nguồn gốc tôn giáo là loại đất mà ở đó có các công trình tôn giáo đã từng được xây dựng và có hoạt động tôn giáo ở trên diện tích đó nhưng vì nhiều nguyên nhân nên hiện không còn sử dụng mảnh đất đó nữa. Do sự tác động của thiên nhiên và hậu quả của chiến tranh, nhiều cơ sở tôn giáo bị phá hủy, bỏ hoang. Lúc đầu đất bỏ hoang được giao cho người dân để sản xuất, sinh hoạt tạm thời nhưng sau một thời gian thì chủ sở hữu của mảnh đất đó không trở về thì cá nhân, hộ gia đình có quyền sử dụng hợp pháp và thực hiện nghĩa vụ đầy đủ đối với mảnh đất đó.

Tranh chấp đất tôn giáo cũng có nguyên nhân từ việc thực hiện các chính sách đất đai của nhà nước. Nhà nước tiến hành thu hồi đất vì những mục đích như: thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng của con người.

Do vấn đề sở hữu đất không đồng đều giữa cá nhân, tổ chức sử dụng đất nên nhà nước tiến hành chia cấp lại đất đai. Chính vì vậy, loại đất có nguồn gốc tôn giáo trở thành đối tượng của tranh chấp đất đai khi cơ sở tôn giáo sau một thời gian dài, diện tích đất thuộc cơ sở tôn giáo đã được giao cho cá nhân, tổ chức khác quản lý và sử dụng ổn định nhưng sau đó hiện nay quay về đòi lại phần diện tích đất đó dẫn đến tranh chấp đất đai xảy ra. 
Thứ hai, tranh chấp đất đai do vi pham pháp luật về đất đai.
Hiện nay, đất đai ngày càng có giá trị do sự tác động của cơ chế thị trường, giá trị xã hội thay đổi theo thời gian. Từ xưa, người dân có thói quen xác định địa giới rõ ràng, thường được các bên chủ sở hữu ngầm định với nhau, được đánh dấu bằng những vật như: cọc bê tông, cọc gỗ,....và truyền qua nhiều thế hệ. Từ đó, nhận thấy rằng vì thói quen của người dân cùng sự quản lý yếu kém của chính quyền trước đây đã dẫn đến những cuộc tranh chấp đất đai do ranh giới không được xác định rõ ràng.

5. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến cơ sở tôn giáo

* Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ sở tôn giáo của Ủy ban nhân dân:

Ủy ban nhân dân là cơ quan chính và chủ yếu thực hiện hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai. Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, là cơ quan nắm rõ tình hình đất đai và là cơ quan tổ chức thực hiện các chính sách của nhà nước về đất đai tại địa phương.

Đối với loại đất đai tôn giáo, pháp luật đất đai quy định Ủy ban nhân dân, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giao đất đối với cơ sở tôn giáo. Khi quyết định thụ lý vụ việc tại cơ sở tôn giáo, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa tổ chức cơ sở tôn giáo với nhau, giữa các tổ chức cơ sở tôn giáo với hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp tranh chấp không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất.
Khi nhận được đơn khiếu nại về giải quyết tranh chấp có liên quan đến các cơ sở tôn giáo, Ủy ban nhân dân sẽ giao cho một cơ quan ngành làm chức năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân đối với việc giải quyết tranh chấp đất đai, thí dụ cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường.
* Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ sở tôn giáo của Tòa án nhân dân:
Đất tôn giáo là loại đất phi nông nghiệp được sử dụng lâu dài và do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao cho tôn giáo quản lý và sử dụng nên khi có tranh chấp đất đai xảy ra tại cơ sở tôn giáo thì căn cứ vào tính chất vụ việc mà Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết theo nguyên tắc: "Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản" (Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).