- 1. Giải quyết yêu cầu xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa hình sự
- 2. Cơ sở pháp lý của quyền yêu cầu về xem xét chứng cứ
- 3. Trách nhiệm của Hội đồng xét xử trong việc xem xét chứng cứ
- 4. Đề xuất giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
- 5. Quy định hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm
- 6. Câu hỏi thường gặp về chứng chứ
- 6.1 Nguyên tắc sử dụng chứng cứ là gì?
- 6.2 Đặc điểm của chứng cứ là gì?
- 6.3 Phân loại các loại chứng cứ
1. Giải quyết yêu cầu xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa hình sự
Căn cứ theo quy định tại Điều 305 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt được quy định như sau:
- Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt tại phiên tòa nhưng vì lý do sức khỏe không thể tham gia tố tụng thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
- Bên cạnh đó, mình xin cung cấp thêm trình tự xét hỏi tại phiên tòa:
+ Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.
+ Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản.
+ Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án. Xem thêm: Vật chứng là gì? Quy định pháp luật về vật chứng
2. Cơ sở pháp lý của quyền yêu cầu về xem xét chứng cứ
Điều 305 về giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt quy định: Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt tại phiên tòa nhưng vì lý do sức khỏe không thể tham gia tố tụng thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định”.
Tên của Điều 305 là “giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ” nhưng tại phần nội dung ghi là quyền “yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét”. Như vậy là chưa thống nhất về mặt từ ngữ vì chứng cứ theo Điều 86 BLTTHS “là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”, còn vật chứng, tài liệu theo Điều 87 BLTTHS là một trong những nguồn chứng cứ. Do đó cần thống nhất về mặt từ ngữ là “giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ” .
Chính vì chưa có sự quy định thống nhất nên dễ nhận đến gây hiểu lầm trong điều luật. Cụ thể là quyền yêu cầu về xem xét chứng cứ có hai dạng:
- Quyền yêu cầu Tòa án đưa các chứng cứ đã được thu thập ra xem xét tại phiên tòa vì mặc dù chứng cứ đã được thu thập nhưng khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử lại không đưa các chứng cứ này ra xem xét (thường là các vật chứng, dữ liệu điện tử, flie ghi âm, ghi hình). Đối với quyền này thì tất cả những người tham gia tố tụng có quyền yêu cầu và chỉ được Hội đồng xét xử xem xét trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa theo Điều 305 BLTTHS
- Quyền đưa ra các chứng cứ mới do người tham gia tố tụng thu thập, cung cấp tại phiên tòa và yêu cầu hội đồng xét xử xem xét. Đối với quyền này thì không phải tất cả những người tham gia tố tụng đều có mà chỉ có những người nào được BLTTHS quy định thì mới phát sinh quyền. Cụ thể là nhóm người tham gia tố tụng sau: Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (điểm d khoản 2 Điều 57); Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo (điểm đ khoản 2 các Điều 58, 59, 60, 61); Bị hại, nguyên đơn dân sự, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (điểm b khoản 2 các Điều 62, 63, 65); Bị đơn dân sự (điểm c khoản 2 Điều 64); Người bào chữa (điểm h khoản 1 Điều 73); Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự (điểm a Khoản 3 Điều 82, 83)
Về thời điểm đưa ra quyền này tuy BLTTHS không quy định cụ thể về thời hạn cuối cùng để đưa ra chứng cứ và yêu cầu hội đồng xét xử xem xét, tuy nhiên theo các quy định khác của BLTTHS có thể xác định thời hạn cuối cùng để đưa ra chứng cứ là trước khi kết thúc phần tranh luận.
Cụ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 322 thì “Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu …”. Cơ chế để thực hiện việc kiểm tra chứng cứ khi bị cáo đưa ra chứng cứ mới tại phần tranh luận sẽ được thực hiện thông qua việc quay lại phần xét hỏi theo quy định tại Điều 323 BLTTHS, cụ thể “Nếu qua tranh luận mà thấy còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận”. Xem thêm: Quy định mới về công bố các tài liệu, chứng cứ của vụ án dân sự?
3. Trách nhiệm của Hội đồng xét xử trong việc xem xét chứng cứ
Đối với yêu cầu đưa các chứng cứ đã được thu thập ra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét, quyết định và thông báo việc chấp nhận yêu cầu hay không chấp nhận yêu cầu trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa.
Đối với việc đưa ra các chứng cứ mới do người tham gia tố tụng thu thập, cung cấp tại phiên tòa và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét. Tuy chưa quy định trình tự cụ thể nhưng có thể vận dụng Điều 252 BLTTHS để giải quyết như sau:
+ Yêu cầu họ nộp tại bàn Thư ký để chuyển Hội đồng xét xử kiểm tra, đánh giá tính xác thực, hợp pháp của chứng cứ (theo Điều 108 BLTTHS), nguồn chứng cứ mà họ có được? Làm rõ lý do tại sao tại phiên toà mới cung cấp?
+ Sau khi đã hỏi rõ các tình tiết liên quan đến hoạt động thu thập và giao nộp chứng cứ Hội đồng xét xử cần hỏi Kiểm sát viên, Người bào chữa, người bào vệ quyền và lợi ích của bị hại, Bị cáo, Bị hại và những người khác theo quy định của pháp luật có ý kiến như thế nào đối với việc giao nộp chứng cứ mới và đánh giá có đảm bảo theo Điều 86 BLTTHS hay không.
Trên cơ sở kiểm tra đánh giá tính xác thực và hợp pháp của chứng cứ và ý kiến của Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng Hội đồng xét có thể quyết định theo các hướng như sau:
+ Nếu tài liệu, chứng cứ, đồ vật cung cấp không đảm bảo tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án thì Hội đồng xét xử không coi đó là chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
+ Nếu các tài liệu, chứng cứ, đồ vật cung cấp đã đảm bảo tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án nhưng không thay đổi bản chất vụ án, không ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị cáo, người bị hại ví dụ như gia đình bị cáo nộp các chứng cứ chứng minh có tình tiết giảm nhẹ; Gia đình bị hại nộp các chứng cứ chứng minh bị cáo có hành vi đe dọa, trả thù; Nguyên đơn dân sự nộp thêm các hóa đơn chứng từ chứng minh cho yêu cầu của mình thì Hội đồng xét xử chấp nhận và xem xét làm rõ trong phần xét hỏi và đánh giá khi nghị án.
+ Nếu tài liệu chứng cứ trên làm thay đổi bản chất vụ án, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người tham gia tố tụng thì Hội đồng xét xử cần lưu ý:
Với các chứng cứ, đồ vật có thể được xác minh, xem xét thực hiện ngay trong 05 ngày thì Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để xác minh.
Với các chứng cứ, đồ vật cần có thời gian để xem xét, xác minh bổ sung thì Kiểm sát viên đề nghị tạm hoãn phiên toà. Cụ thể: Trường hợp không thể bổ sung tài liệu tại phiên toà, Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Xem thêm: Chứng cứ là gì ? Phân tích thuộc tính của chứng cứ trong vụ việc dân sự
4. Đề xuất giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
Từ những phân tích ở trên, để góp phần hoàn thiện Điều 305 BLTTHS, người viết đề xuất xem xét, bổ sung Điều này như sau:
“Điều 305. Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
1. Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ
Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm chứng cứ đã được thu thập trong vụ án ra xem xét hoặc yêu cầu được đưa thêm các chứng cứ mới, chưa được thu thập trong vụ án ra xem xét tại phiên tòa hay không. Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Việc giải quyết yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm chứng cứ đã được thu thập trong vụ án ra xem xét được thực hiện trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa.
Việc giải quyết yêu cầu được đưa thêm các chứng cứ mới, chưa được thu thập trong vụ án ra xem xét tại phiên tòa được thực hiện chậm nhất trước khi khi Hội đồng xét xử tuyên bố kết thúc phần tranh luận.
2. Giải quyết yêu cầu hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt tại phiên tòa nhưng vì lý do sức khỏe không thể tham gia tố tụng thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định. Xem thêm: Bảo quản chứng cứ như thế nào ? Quy định pháp luật về bảo vệ chứng cứ
5. Quy định hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm
Điều 297 BLTTHS năm 2015 quy định về hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm (1) theo đó Tòa án phải hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp sau: Phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa (khoản 2 Điều 52); phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa (khoản 2 Điều 53); không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán dự khuyết để thay thế theo quy định tại khoản 2 Điều 288 BLTTHS thì phải hoãn phiên tòa (khoản 3 Điều 288); Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có kiểm sát viên dự khuyết thay thế (khoản 2 Điều 289); bị cáo vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan (khoản 1 Điều 290); người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa (Điều 291); bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử (khoản 1 Điều 293); người giám định, người định giá tài sản vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử (khoản 2 Điều 294); người phiên dịch, người dịch thuật vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa (khoản 2 Điều 295). Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa. Cần tiến hành giám định bổ sung, giám định lại. Cần định giá tài sản, định giá lại tài sản.
Trường hợp hoãn phiên thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu. Hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm có thể phát sinh vào thời điểm trước khi mở phiên tòa hoặc thời điểm bắt đầu phiên tòa. Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.
Thẩm quyền ra quyết định hoãn phiên tòa thuộc về Hội đồng xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 còn quy định trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa.
Quyết định hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm phải được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Quyết định hoãn phiên tòa có các nội dung chính sau: Ngày, tháng năm ra quyết định; tên Tòa án và họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án; Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; Vụ án được đưa ra xét xử; Lý do của việc hoãn phiên tòa; Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại , gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.
6. Câu hỏi thường gặp về chứng chứ
6.1 Nguyên tắc sử dụng chứng cứ là gì?
Để việc sử dụng chứng cứ đạt được mục đích, chủ thể tiến hành tố tụng cần phải quán triệt và thực hiện một số vấn đề mang tính nguyên tắc trong sử dụng chứng cứ, đó là:
Nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ trong tố tụng hình sự: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được sử dụng những chứng cứ với đầy đủ các thuộc tính bắt buộc là khách quan, liên quan và hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được qua biện pháp điều tra, trinh sát, phải được chuyển hóa thành chứng cứ hợp pháp mới được sử dụng. Những tài liệu, chứng cứ phải được kiểm tra, xác minh đầy đủ, phải phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo sự tin cậy vững chắc và có đủ căn cứ mới sử dụng được. Tuyệt đối không sử dụng chứng cứ chưa qua nghiên cứu, kiểm tra, xác minh làm căn cứ, cơ sở để đưa ra những quyết định pháp lý, hoặc sử dụng vào việc kiểm tra, đánh giá các chứng cứ khác. Khi sử dụng chứng cứ không được định kiến, chủ quan, thiên lệch, coi trọng chứng cứ này mà bỏ qua chứng cứ kia, chỉ coi trọng sử dụng chứng cứ gốc, chứng cứ trực tiếp mà bỏ qua, coi nhẹ chứng cứ sao chép, chứng cứ thuật lại, chứng cứ gián tiếp, không chỉ sử dụng chứng cứ buộc tội mà sử dụng cả chứng cứ gỡ tội và ngược lại.
Khi sử dụng chứng cứ phải tuân theo đúng những quy định của pháp luật: Pháp luật tố tụng hình sự đã quy định thế nào là chứng cứ, cũng như quy định về nguồn chứng cứ. Do vậy, khi sử dụng những chứng cứ phải chấp hành nghiêm chỉnh theo những quy định của pháp luật tố tụng. Chẳng hạn, khi sử dụng lời khai của bị can, bị cáo làm chứng cứ thì phải hết sức thận trọng vì “... Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội” (khoản 2 Điều 98 BLTTHS năm 2015). Đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Khi sử dụng lời khai của người làm chứng cần lưu ý:
“1. Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó” (Điều 91 BLTTHS năm 2015).
Sử dụng chứng cứ phải đảm bảo tính kịp thời
Sau khi phát hiện, thu thập chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng cần tiến hành nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá ngay để sử dụng nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời của các hoạt động tiếp theo, vừa đảm bảo thời gian đã được quy định đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, vừa đảm bảo yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn tội phạm có thể xảy ra, hạn chế những thiệt hại cho xã hội, bắt giữ ngay người phạm tội không để chúng có thời gian lẩn trốn, tiêu hủy tài sản, chứng cứ tang vật, xóa hết dấu vết hoặc tiếp tục gây án. Mặt khác, các chứng cứ sau khi kiểm tra đánh giá, đã xác định được giá trị chứng minh của chứng cứ thì chỉ được sử dụng đúng với giá trị của nó, việc sử dụng cần căn cứ vào giới hạn, giá trị chứng minh của từng chứng cứ, không được phép phán đoán chủ quan, sử dụng gượng ép, ngoài khả năng chứng minh của từng chứng cứ. Sử dụng đúng giá trị chứng minh của chứng cứ cho phép người tiến hành tố tụng xác định đúng sự thật khách quan, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội.
6.2 Đặc điểm của chứng cứ là gì?
Trong quá trình tiến hành tố tụng, không chỉ có các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng minh, tất cả những người tham gia tố tụng cũng có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, phần lớn chứng cứ của vụ án do các đương sự chủ động cung cấp cho Toà án nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình. Toà án dựa vào những tin tức chứa đựng trong các tài liệu, vật chứng đó và trên cơ sở tranh tụng công khai tại phiên toà để đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho việc ra phán quyết đúng pháp luật, đảm bảo công bằng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các đương sự.
Vì thế chứng cứ rất quan trọng đối với việc chứng minh của cả cơ quan tố tụng và các bên đương sự. Chứng cứ có những đặc điểm chính sau đây:
1. Tính khách quan: Chứng cứ hình thành và tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng không được tạo ra chứng cứ, nếu vậy tính khách quan sẽ không cò; do đó không thể coi là chứng cứ. Con người phát hiện, thu thập và tìm ra chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó.
2. Tính liên quan: Theo từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục, 1998:” tính liên quan là sự liên hệ, dính dáng nhau ở một hay một số tính chất”.Tính liên quan tỏng vụ việc tố tụng dân sự được hiểu là : các tình tiết, sự kiện, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ việc dân sự mà tòa án đang giải quyết. Chứng cứ là những thông tin làm cơ sở cho việc khẳng định sự tồn tại hoặc không tồn tại của những sự kiện có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Các sự kiện, tình tiết được coi là chứng cứ khi nó chứa đựng những nội dung gắn liền với việc giải quyết của vụ án. Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định cụ thể các loại nguồn của chứng cứ, tuy nhiên Tòa án phải chọn lọc, đánh giá những gì có thật liên quan đến vụ việc mà thôi.
Tính liên quan của chứng cứ có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Mối quan hệ trực tiếp là mối quan hệ dựa vào đó có thể xác định nagy các tình tiết, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự xem đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh. Mối liên hệ gián tiếp là mối quan hệ qua khâu trgn gian mới tìm được tình tiết, sự kiện. Tuy nhiên, cho dù là mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp thì đây cũng là mối quan hệ nội tại, có mối quan hệ nhân quả. Từ việc đánh giá rõ tình tiết liên quan, Tòa án có thể xác định đúng chứng cứ cần sử dụng để giải quyết đúng đắn sự việc dân sự mà không để xảy ra trường hợp thừa hay không đầy đủ chứng cứ.
3. Tính hợp pháp: Không phải bất kỳ thông tin thực tế nào liên quan đến các tình tiết sự kiện của vụ án đều có thể làm căn cứ cho Tòa án giải quyềt vụ án mà chỉ có những thông tin thực tế được thu thập, kiểm tra và đánh giá theo trình tự do luật định. Mặt khác, chỉ có những thông tin thực tế thu thập từ những nguồn do luật định mới có thể được coi là chứng cứ. Trước hết, chứng cứ phải được pháp luật thừa nhận, các tình tiết, sự kiện chỉ được coi là chứng cứ khi mà pháp luật dân sự quy định nó là một trong những loại nguồn của chứng cứ. Vật chứng luôn là vật gốc có tính đặc định, liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý, nếu sao chép, tái hiện lại vật chứng thì không được coi là vật chứng.
Vì vậy tòa án không chỉ thu thập đúng trình tự mà còn phải bảo quản, giữ gìn, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện để đảm bảo tính đúng đắn hợp pháp của chứng cứ. Tính hợp pháp của chứng cứ được xác định một cách cụ thể: phải là một trong các nguồn hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định; Phải là phương tiện chứng minh hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định; Phải được giao nộp trong một thời hạn hợp pháp; Phải được công bố công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự ; Phải được thu thập cung cấp theo đúng pháp luật tố tụng.
6.3 Phân loại các loại chứng cứ
Chứng cứ qua phân loại được gọi dưới những tên khác nhạu. Tuy vậy, việc phân loại chứng cứ không làm thay đổi giá trị chứng minh của chứng cứ. Việc phân loại chứng cứ chù yếu có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu và đưa ra những quy định về chứng cứ, Bên cạnh đó, nó cũng có ý nghĩa đối với việc sử dụng chứng cứ trong giải quyết vụ việc dân sự. Chẳng hạn, nếu có chứng cứ thuật lại thì phải có chứng cứ gốc, đối với chửng cứ gián tiếp thì khi sử dụng phải kết hợp cùng chứng cứ khác ... Từ việc phân loại chứng cứ, toà án có thể xác định được phạm vi những chứng cứ, tài liệu cần phải thu thập, xác định được yêu cầu sử dụng đối với chứng cứ cụ thể ... bảo đảm việc giải quyết đúng vụ việc dân sự.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)