Việc bảo quản chứng cứ được thực hiện theo quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chứng cứ phải được bảo quản lâu dài, không để bị mất, thất lạc hoặc giảm giá trị chứng minh. Chứng cứ có thể do đương sự, toà án hoặc người nào đó lưu giữ. Do vậy, về nguyên tắc người nào lưu giữ chứng cứ phải có trách nhiệm bảo quản chứng cứ. Nếu chứng cứ đã được giao nộp cho toà án thì toà án có trách nhiệm bảo quản chứng cứ. Trong trường hợp chứng cứ không thể giạo nộp cho toà án được thì người đang lưu giữ chứng cứ đó có trách nhiệm bảo quản. Trường hợp giao chứng cứ cho người thứ ba thì thẩm phán ra quyết định bằng văn bản và lập biên bản giao cho người đó bảo quản.

Đe xác định được trách nhiệm của người lưụ giữ chứng cứ trong việc bảo quản chứng cứ, khi giao nhận chửng cứ đều phải có biên bản phàn ánh lại. Người nhận bảo quản phải kí tên vào biên bản, được hưởng thù lao và phải chịu trách nhiệm về việc bảo quản chứng cứ đó.

Quy định pháp luật về bảo vệ chứng cứ

Bảo vệ chứng cứ là chổng lại các hành vi xâm phạm chứng cứ để giữ gìn giá trị chứng minh của chứng cứ. Trong tố tụng dân sự, việc bảo vệ chứng cứ giữ được giá trị chứng minh của chứng cứ bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng và đúng đan. Việc bảo vệ chứng cứ được thực hiện quy định tại Điều 110 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bảo vệ chứng cứ được thực hiện trong trường hợp có hành vi tiêu huỷ, xâm phạm đến chứng cứ hoặc có nguy cơ chứng cứ bị tiêu huỷ. Toà án ra quyết định bảo vệ chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết. Trong trường hợp chứng cử đang bị tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền làm đơn đề nghị toà án quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ. Trong trường hợp người làm chứng bị đe doạ, bị khống chế hoặc bị mua chuộc để không cung cấp chứng cú hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật thì toà án ra quyết định bào vệ chứng cứ.

Khi quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ chứng cứ, toà án phải ra quyết định bằng văn bản. Toà án có thể quyết định áp dụng một hoặc một số trong các biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phục chế, khám nghiệm, lập biên bản và các biện pháp khác để bảo vệ chứng cứ. Toà án có quyền quyết định buộc người có hành vi đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành vi đe doạ, khổng chế hoặc mua chuộc người làm chứng.

Ngoài ra, toà án có thể áp dụng các biện pháp xử lí những người có hành vi xâm phạm đến chứng cứ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp hành vi xâm phạm chứng cứ, đe doạ, khổng chế hoặc mua chuộc người làm chứng có dấu hiệu tội phạm thì toà án yêu cầu viện kiểm sát xem xét về ttách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về bảo vệ, bảo quản chứng cứ cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quy định mới về công bố các tài liệu, chứng cứ của vụ án dân sự ?

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chứng cứ là gì ? Phân tích thuộc tính của chứng cứ trong vụ việc dân sự