1. Dữ liệu điện tử

Điều 87, Điều 99 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định “dữ liệu điện tử” là một trong các nguồn chứng cứ; dữ liệu điện tử bao gồm:

- Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.

- Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.

- Giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yêu tố phù hợp khác.

2. Về hoạt động thu thập dữ liệu điện tử

- Thứ nhất, việc thu thập, bảo quản phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử thực hiện theo Điều 88, 89, 90, 107 Bộ luật TTHS, theo đó, các phương tiện điện tử liên quan đến tội phạm phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ và niêm phong ngay sau khi thu giữ; trường hợp không thể thu giữ phương tiện điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng và phải lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án; cơ quan có thẩm quyền tố tụng và người bào chữa được quyền thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử.

- Thứ hai, đánh giá sự cần thiết phải thu giữ dữ liệu điện tử: Thông thường, các vụ án xảy ra trên thực tiễn đều để lại dấu vết và quá trình tìm ra dấu vết đó thuộc trách nhiệm của cơ quan tố tụng. Do vậy, các cơ quan tố tụng cần rà soát và thu giữ ngay các phương tiện, dữ liệu điện tử (nếu có) trong mỗi vụ án, tránh để tình trạng hình ảnh, dữ liệu bị trôi theo thời gian và xáo trộn dữ liệu hoặc chủ sở hữu phương tiện điện tử chủ động xóa dữ liệu vì các lý do khác nhau. Đối với một số loại tội phạm như các vụ án về giao thông, cố ý gây thương tích, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản, đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề... thì đây là việc làm rất cần thiết và quan trọng.

- Thứ ba, xác định phương tiện điện tử chứa đựng dữ liệu điện tử: Đây là hoạt động để xác định nguồn gốc của dữ liệu điện tử. Do vậy, chúng ta cần xác định đúng tên gọi, chức năng, thậm chí cả nguồn gốc, xuất sứ của phương tiện điện tử đó khi xem xét thu giữ; khi thu giữ phải mô tả đúng đặc điểm, tên gọi, các thông số kỹ thuật, các hiển thị của phương tiện điện tử tại thời điểm thu giữ. Ví dụ: đối với các vụ án kinh tế, các vụ án sử dụng công nghệ cao là hệ thống máy tính có liên quan đến hành vi phạm tội; đối với các vụ án xâm phạm trật tự xã hội là các thiết bị như điện thoại, thông tin qua tài khoản trên mạng xã hội, mạng viễn thông (thu giữ điện tín), camera an ninh xung quanh hiện trường, tại các điểm vào, ra của hiện trường, hệ thống camera hành trình được lắp đặt trên phương tiện tham gia giao thông… .

- Thứ tư, xác định nguồn gốc phương tiện điện tử và người sở hữu, người sử dụng nó: Đây là hoạt động nhằm xác định chính xác người đã khởi tạo (tạo ra), truyền gửi, lưu trữ dữ liệu điện tử trên phương tiện điện tử; là căn cứ để xác định tính khách quan của dữ liệu điện tử (điều này đặc biệt quan trọng đối với các vụ án đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề; các vụ án sử dụng công nghệ cao…); làm rõ quá trình sử dụng phương tiện điện tử của chủ sở hữu, cách thức khởi tạo, cách thức truyền gửi dữ liệu, phương tiện điện tử có cài đặt mật khẩu hay không, việc quản lý phương tiện điện tử… .

3. Về khai thác, sử dụng dữ liệu điện tử

- Thứ nhất, dữ liệu điện tử đã được thu thập phải được khai thác và sử dụng triệt để; áp dụng các biện pháp cần thiết (có thể là giám định) để chuyển hóa thành các tài liệu nghe được, đọc được hoặc nhìn được. Khi xem xét cần xác định thời gian thực tế và thời gian được cài đặt, hiển thị trên phương tiện điện tử đã thu giữ (giờ, ngày, tháng, năm). Đây là yếu tố quan trọng để đối chiếu với các chứng cứ khác, đôi khi có ý nghĩa quyết định để giải quyết vụ việc.

- Thứ hai, trước khi lập biên bản kiểm tra dữ liệu điện tử, cơ quan tố tụng cần yêu cầu người tham gia tố tụng trình bày nội dung sự việc, những điều họ đã nhìn thấy, nghe được, yêu cầu mô tả thời gian, hoàn cảnh, đặc điểm hiện trường, đặc điểm nhận dạng và các đặc điểm riêng biệt khác…bằng biên bản; Biên bản kiểm tra giữ liệu điện tử phải thể hiện rõ phương pháp, cách thức kiểm tra vàphải có đầy đủ các thành phần như chủ sở hữu phương tiện điện tử, người làm chứng, cán bộ kỹ thuật và những người có liên quan.

- Thứ ba, việc sao lưu dữ liệu điện tử kèm theo hồ sơ hoặc in thành tài liệu qua hình ảnh (các vụ án đánh bạc qua tin nhắn điện thoại, zalo…; các hình ảnh qua facebook trong các vụ cưỡng đoạt tài sản, vu khống…) cũng cần nêu rõ phương pháp, kết quả thực hiện và phải lập biên bản, có người làm chứng và ký tên trực tiếp vào các tài liệu đã sao in để đảm bảo tính khách quan. Trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định thì yêu cầu giám định tính nguyên vẹn và nội dung của dữ liệu điện tử (tùy theo yêu cầu chứng minh).

- Thứ tư, nghiên cứu, đối chiếu dữ liệu điện tử với các tài liệu, chứng cứ khác, nhất là lời khai của người tham gia tốtụng, hiện trường, vật chứng; yêu cầu phải xác định các chứng cứ khác trước khi khai thác nội dung của dữ liệu điện tử để bảo đảm tính liên quan và yêu tố khách quan.

4. Giám định dữ liệu điện tử và quy trình sao lưu, phục hồi, phân tích dữ liệu điện tử

Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng phục vụ cho việc giải quyết các vụ án.

Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thủ tục tố tụng về hoạt động giám định, phục hồi, tìm kiếm dữ liệu điện tử và về kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải được chuyển sang dạng có thể đọc được, nghe được hoặc nhìn được.

Hoạt động giám định dữ liệu điện tử do giám định viên tư pháp sử dụng thiết bị, công nghệ phù hợp thực hiện việc sao chép, phục hồi, giải mã, phân tích và tìm kiếm dữ liệu lưu trong tang vật là thiết bị lưu trữ.

Hoạt động giám định dữ liệu điện tử gồm hai loại:

- Loại thứ nhất: Giám định tư pháp so sánh giữa “file dữ liệu lưu trong tang vật’“file dữ liệu so sánh” để tìm nguồn gốc, truy nguyên đồng nhất. Căn cứ để giám định có thể dựa vào đặc điểm của dữ liệu điện tử có logfile, siêu dữ liệu và giá trị chuyên biệt (hàm Hash) để truy nguyên đồng nhất, tìm nguồn gốc, giống vân tay. Tuy nhiên, hàm Hash sẽ thay đổi khi file dữ liệu đó có bất kỳ sự thay đổi nào, dù chỉ là một bit, nên các file dữ liệu sau khi được sao chép, lưu trữ, truyền tải hầu hết có số Hash khác, không thể truy nguyên đồng nhất.

- Loại thứ hai: Phần lớn hoạt động thu thập, phục hồi, phân tích dữ liệu gồm: chặn thu dữ liệu đang truyền tải trên mạng, tìm kiếm dữ liệu đang lưu, tồn tại trong thiết bị lưu trữ trên mạng hoặc trong máy chủ, trong thiết bị kỹ thuật số của cá nhân là để tìm dữ liệu làm chứng cứ. Đây không phải là hoạt động so sánh, truy nguyên đồng nhất, tìm nguồn gốc vì không có file dữ liệu để so sánh. Kết quả của hoạt động này chỉ là tìm kiếm được dữ liệu có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội, thủ phạm, nạn nhân hoặc thiệt hại.

Quá trình phục hồi, tìm, thu thập, phân tích, giám định dữ liệu đang tồn tại trong bộ nhớ kỹ thuật số luôn phải có sự phối hợp với cán bộ trinh sát, điều tra vụ án, xác định dữ liệu nào có giá trị đế sử dụng thành chứng cứ (có chữ ký của đối tượng tạo dữ liệu và những người tham gia tố tụng).

5. Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật

Khó khăn về trình độ của người tiến hành tố tụng đối với phương tiện điện tử và dữ liệu điện tử: Hiện nay, trình độ hiểu biết về phương tiện điện tử và dữ liệu điện tử của người tiến hành tố tụng có mặt còn hạn chế nên việc thu thập, thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử chưa được thống nhất về phương tiện và cách thức tiến hành. Điều này ảnh hưởng đến các thuộc tính của nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử.

Khó khăn trong việc giám định dữ liệu điện tử: Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS thì dữ liệu điện tử không thuộc trường hợp bắt buộc phải giám định, do đó, có tiến hành giám định hay không là phụ thuộc vào nhận định của cơ quan tiến hành tố tụng. Như đã phân tích ở trên, để xem xét dữ liệu điện tử có giá trị làm chứng cứ hay không, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ phải xem xét rất nhiều các yếu tố khác nhau như: Cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

Khó khăn trong khai thác dữ liệu điện tử: Khoản 4 Điều 107 BLTTHS quy định: …“kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được”. Các cơ quan tố tụng đang gặp nhiều khó khăn khi chuyển hóa những đoạn video clip thành chứng cứ dưới dạng có thể đọc được. Đối với dữ liệu điện tử được thu từ các thiết bị, phương tiện điện tử có thể ghi hình và lưu dữ liệu điện tử dưới dạng file video, hiện nay thường sử dụng phương pháp cho người tham gia tố tụng xem trực tiếp để xác định người, vật và các hoạt động diễn ra trong đoạn video thu được, sau đó tiến hành lập biên bản ghi nhận. Biên bản cho người tham gia tố tụng trực tiếp xem hình ảnh, video là hoạt động gì trong các hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS. Trường hợp người xem có sự xác nhận khác, ảnh hưởng đến tính xác thực của hình ảnh thì sẽ ảnh hưởng lớn đến nhận định, đánh giá của người tiến hành tố tụng.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)