Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật dân sự 2005

- Bộ luật hình sự 1999

Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009

II. Nội dung

hiện tôi cho 1 người vay 5tr .. 2 bên làm giấy tờ vay nhưng chưa nên chứng thực trên xã liệu khi ng vay không trả tôi tôi có thể kiện hay nhờ pháp luật giải quyết ko ạ

BLDS 2005 quy định như sau:

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy, pháp luật không yêu cầu hợp đồng vay tiền cần chứng thực. Vì vậy, giấy tờ vay tiền của bạn hoàn toàn có hiệu lực pháp luật và phát sinh nghĩa vụ giữa các bên.

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

Kính thưa luật sư, tôi có nội dung thắc mắc như sau: Tôi có đưa người quen 25.000.000 triệu đồng để cho vay lấy lãi nhưng không có giấy tờ gì hết, sau đó người này không đóng lãi và không trả tiền gốc luôn. Xin cho hỏi người này có bị xử lý tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không?. Xin cám ơn luật sư.

 theo quy định tại BLHS về tội danh lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của bạn tại Khoản 1 Điều 140 như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 1 BLHS 2009 quy định: "Sửa đổi cụm từ “một triệu đồng” thành cụm từ “bốn triệu đồng” tại khoản 1 và bỏ từ “trên” tại điểm d khoản 2 Điều 140;"

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Số tiền bạn cho người quen vay là 25tr đồng, đủ để cấu thành tội phạm đối với B.

Theo quy định tại điều 101 BLTTHS 2003: “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”.
 
Sau khi gửi đơn tố giác, quyền và nghĩa vụ của bạn là cung cấp mọi thông tin đúng sự thật cho cơ quan điều tra nếu cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án theo đơn tố giác nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Sau khi xử lí về hình sự, tòa án sẽ giải quyết yêu cầu về mặt dân sự cho bạn. Và đương nhiên bạn phải đưa ra được các căn cứ như đã nêu ở trên để chứng minh quyền sở hữu tài sản của mình.

Xin chào luật sư.mình có vay bên ngân hàng homec số tiền là 25 triệu cho bạn mượn.HĐ đứng tên mình trả trong 18 Tháng.thời gian đầu bạn mình có qua trả được mấy tháng.sau thị bạn ấy không trả nữa.vì mình đung tên nên vẫn tiếp tục thánh toán tới kỳ 14.mình có gặp khó khăn và không đóng nữa.còn lại 4 kỳ là kết thúc HĐ.nhưng nay bên ngân hàng họ gọi điện kiện mình thì mình có giải thích. Mà họ hạnh sử nhượng xã hội đen.họ đưa ra công an phường giải quyết.xin cho mình phải bị gi không

Theo quy định pháp luật thì bạn là người đứng tên trên các giấy tờ vay với Ngân hàng HOMEC, vì vậy, bạn có nghĩa vụ phải trả tiền đúng thời hạn cho ngân hàng HOMEC. Còn về việc bạn vay số tiền đó để cho bạn của bạn mượn, và nay bạn muốn đòi lại số tiền đó thì bạn có thể làm đơn kiện người bạn của bạn để đòi lại số tiền đó theo 2 cách sau:

TH1: đòi theo thủ tục tố tụng dân sự:

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

Bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án yêu cầu bạn của bạn thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như sau:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Theo phương án này, bạn gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền . Ở đây là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015

" Điều 39. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

TH2: Theo thủ tục hình sự

 Theo quy định tại BLHS về tội danh lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của bạn tại Khoản 1 Điều 140 như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

>> Xem thêm:  Rủi ro khi nhờ người đứng tên vay trả góp mua nhà và đứng tên nhà hộ là gì ?

Theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 1 BLHS 2009 quy định: "Sửa đổi cụm từ “một triệu đồng” thành cụm từ “bốn triệu đồng” tại khoản 1 và bỏ từ “trên” tại điểm d khoản 2 Điều 140;"

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Số tiền bạn cho người quen vay là 25tr đồng, đủ để cấu thành tội phạm đối với B.

Theo quy định tại điều 101 BLTTHS 2003: “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”.
 
Sau khi gửi đơn tố giác, quyền và nghĩa vụ của bạn là cung cấp mọi thông tin đúng sự thật cho cơ quan điều tra nếu cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án theo đơn tố giác nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Sau khi xử lí về hình sự, tòa án sẽ giải quyết yêu cầu về mặt dân sự cho bạn. Và đương nhiên bạn phải đưa ra được các căn cứ như đã nêu ở trên để chứng minh quyền sở hữu tài sản của mình.

chào luật sư! luật sư cho em hỏi nhà em hiện đang thiếu nợ khoản 350 triệu. hiện giờ nhà em không có khả năng chi trả. nên chủ nợ đòi kiện ra tòa. như vậy nhà em có bị sao không ạ. vì khi ký vào tờ giấy ghi nợ có chi là khi nào có tiền sẽ trả lần lần. 2 bên đã ký thuận. nhưng giờ chủ nợ kiện ra tòa liệu nhà em có bị tịch thu nhà ở không ạ

BLDS 2005 có quy định như sau:

Điều 412. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng dân sự

Việc thực hiện hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

1. Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác;

2. Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau;

3. Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Vì trong giấy vay nợ có thỏa thuận khi nào bạn có tiền sẽ trả dần dần, vì vậy, bạn không vi phạm nghĩa vụ của mình, chủ nợ không thể kiện bạn ra tòa được.

>> Xem thêm:  Vay hỗ trợ trả góp và mua điện thoại trả góp mà mất khả năng lao động thì bị xử lý thế nào ?

Tôi cho vay nặng lãi với lãi xuất 15% /1 tháng nhưng hợp đồng vay tiền chỉ 2% thôi. Số tiền con nợ vay(40 triệu) được 6 tháng thì không có khả năng trả lãi và gốc. Tôi bảo không trả sẽ kiện ra toà,con nợ đã nãy sinh ý nghĩ giết người cướp của và thực hiện thành công để trả nợ cho tôi và đã bị công an bắt giữ. Vậy tôi có bị tội gì không thưa đoàn luật sư. Lưu ý: đây chỉ là tình huống giả định.

Trong trường hợp này, con nợ của bạn đã nảy sinh ra ý định giết người là do chủ quan của người đó, bạn không xui khiến họ phải làm như vậy để có tiền trả. Vì vậy, nếu con nợ bạn có thực hiện hành vi phạm tội thì bạn không có liên quan đến vụ việc. Tuy nhiên, hành vi cho vay nặng lãi của bạn đã vi phạm quy định pháp luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật, như sau:

Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận tư vấn Luật Dân sự - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Vay tiền trả góp bị quá hạn thanh toán thì phải chịu trách nhiệm gì ?

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?