1. Giết người chưa đạt có phạm tội?
Sau khi cơ quan công an làm việc thì chỉ kết luận là chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm và chỉ bị xử phạt hành chính thôi. Vậy luật sư cho tôi hỏi cơ quan công an làm vậy có đúng không? Tôi muốn anh này phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mong nhận được hồi âm từ phía Luật sư. Kính chúc Luật sư sức khỏe.
Trả lời:
Theo thông tin mà bạn cung cấp thì anh A đã có hành vi dùng chai bia ném vào nhà bạn, đi xe ô tô đâm vào nhà bạn và đe dọa sẽ giết bạn. Sau đó anh ta dùng xăng dổ vào nhà bạn và châm lửa đốt nhưng do được mọi người ôm vào ngăn cản nên anh ta chưa châm được lửa để đốt nhà bạn và giết bạn. Như vậy từ thông tin bạn cung cấp thì có thể thấy hành vi của anh A muốn phá hoại tài sản và muốn giết bạn. Theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP, các hành vi của anh A có thể bị xử lý theo quy định sau:
Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;
...
Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm a, b, c Khoản 1; Điểm c, đ, e Khoản 2 Điều này.
4. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vì vậy hành vi của anh A có thể bị xử phạt hành chính theo quy định trên. Ngoài ra nếu có đủ căn cứ để truy cứ trách nhiệm hình sự thì anh A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:
Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm."
Như vậy anh A có những hành vi như vậy và dùng xăng tưới vào nhà anh với mục đích là để giết anh nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra là do đã có mọi người can ngăn nên chưa xảy ra hậu quả chết người. Vì vậy có thể xem xét đến trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Điều 15. Phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.
Việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:
Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.
2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.
3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Vì vậy bạn có thể yêu cầu cơ quan công an làm rõ về hành vi của anh A với mục đích là giết người. Tuy nhiên chưa có thiệt hại về người là do có người ngăn cản nằm ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội.
Ngoài ra nếu hành vi của anh A gây thiệt hại cho nhà bạn mà có đủ căn cứ thì anh A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2. Mức phạt cao nhất đối với tội giết người ?
Đến chiều tối hôm sau khi vợ chồng anh trai tôi từ bên nhà tôi chơi về đến nhà anh ấy thì cha của cháu bé kia có đến tìm trong trạng thái say rượu và nói là có đến tìm anh trai tôi 2,3 lần để hỏi về việc đánh nhau của hai cháu. Anh trai tôi thấy anh kia đã say nên có bảo anh đó về đi có gì ngày mai uống cafe rồi nói chuỵên. Trong lúc đang nói chuyện thì anh kia chạy xe về, một lúc sau chạy xe lại trên tay có cầm hung khí và bảo với anh trai tôi là phải giải quyết ngay hôm nay. Trong lúc cãi cọ, thì anh kia có đập vỡ đèn và mái tôn nhà anh tôi. Lúc đó thì hai bên có xảy ra đánh nhau anh tôi lỡ tay chém chết anh đó, anh tôi bị gãy chân và cũng có nhiều vết đánh trên người, sau đó anh tôi cũng đã đầu thú với công an.
Vậy thưa luật sư trong trường hợp như anh tôi cao nhất là phải chịu hình phạt bao nhiêu và có tình tiết nào được giảm nhẹ hay không?
Mong được hồi âm của luật sư. Xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Trường hợp của anh bạn có hành động chống cự lại chỉ nhằm mục đích ngăn cản, chống trả lại việc bị tấn công của người đàn ông kia chứ không phải nhằm mục đích gây ra cái chết cho người đó.
Tuy nhiên hành động của anh bạn lại dẫn đến hậu quả chết người. Và việc chết người này là nằm ngoài ý muốn chủ quan của anh bạn, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì:
Điều 126. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
Như vậy, hành vi của anh bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo quy định tại Khoản 1 Điều 126 nêu trên.
Về tình tiết giảm nhẹ, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định như sau:
Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
...
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
r) Người phạm tội tự thú;
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
...
2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
Như vậy, trường hợp của anh bạn, Toà án thể áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, r, s và tính tiết đầu thú để cân nhắc về việc đưa ra hình phạt phù hợp.
3. Xác định cấu thành tội phạm ?

Luật sư trả lời:
Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội giết người như sau:
Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Với tình huống nêu trên thì tội giết người thuộc cấu thành tội phạm tăng nặng.
Bộ luật hình sự quy định về tội cướp tài sản như sau:
Điều 168. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
Như vậy với mức án mà Tòa tuyên thì tội cướp tài sản thuộc cấu thành tội phạm tăng nặng.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
4. Phân biệt tự thú và đầu thú.
Thưa luật sư, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hiện nay, tôi có thấy pháp luật đề cập tới hai trường hợp "đầu thú" và "tự thú". Mong luật sư tư vấn cho tôi cách phân biệt hai trường hợp trên.
Càm ơn luật sư!
Trả lời:
Xét về mặt bản chất, hành vi “Đầu thú” và “Tự thú” là hai trường hợp khác nhau, được luật quy định khác nhau nên dựa vào đó có thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc xem xét áp dụng nhiều chế định liên quan về việc đánh giá khung hình phạt trong thực tế xét xử. Do đó việc hiểu đúng và áp dụng chính xác để đảm bảo nguyên tắc và quyền lợi cho bị can, bị cáo là điều vô cùng cần thiết.
Theo quy định tại Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
h. Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện.
i. Đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình.
Trong thực tế tại hai bộ luật hình sự và tố tụng hình sự hiện hành không quy định cụ thể về việc “đầu thú” và “tự thú” mà phải dựa theo hướng dẫn của Công văn 81/2002/TANDTC:
"Tự thú" là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình Điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện.
"Đầu thú" là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2-6-1990 của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp "Hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú", thì các trường hợp này đều được coi là tự thú. Tuy hướng dẫn các trường hợp này đều được coi là tự thú để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng không hướng dẫn cụ thể trong trường hợp nào áp dụng Khoản 1, trong trường hợp nào áp dụng Khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985. Để áp dụng đúng và thống nhất tình Tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong các trường hợp trên đây, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể như sau:
- Nếu người phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội thì áp dụng tình Tiết giảm nhẹ "tự thú" quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với người phạm tội.
- Nếu có người đã biết hành vi phạm tội của người phạm tội nhưng biết không thể trốn tránh được nên người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện thì áp dụng Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Cũng cần chú ý là, trong trường hợp này, nếu người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc có những việc làm khác thuộc trường hợp được coi là tình Tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì được hưởng tình Tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999
Hiện thời chưa có hướng dẫn chính thức theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì nên áp dụng quy định và hướng cẫn của Công văn 81/2002/TANDTC một cách “linh hoạt” và phù hợp. Việc vận dụng linh hoạt những quy định này để không trái những nguyên tắc cơ bản của quy định hiện hành mà vẫn có lợi cho người phạm tội sẽ góp phần đạt được mục đích cuối cùng là cải tạo, giáo dục, cho họ có thêm cơ hội hoàn lương.
5. Tội đe dọa giết người được quy định như thế nào trong luật?
Theo Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ xảy ra thì phạm tội giết người.
Trong đó, hành vi “đe dọa” trên có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như qua lời nói trực tiếp, viết thư, gọi điện... hoặc bằng các cử chỉ, hành động như đi tìm công cụ, phương tiện đe dọa giết người dẫn đến tâm lý bất an, lo sợ cho người bị đe dọa.
Hậu quả của hành vi đe dọa giết người là sự lo sợ rằng việc bị giết có thể xảy ra nhưng chưa xảy ra trên thực tế.
Để đánh giá người bị đe dọa có phải ở trong tình trạng tâm lý như lo lắng, sợ hãi hay không thì cần dựa vào các tình tiết như: Nội dung và hình thức đe dọa; thời gian, địa điểm và hoàn cảnh hành vi đe dọa xảy ra; tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa; thái độ của người bị đe dọa…
Người phạm tội đe dọa giết người nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra sự lo sợ cho người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi đó. Do vậy, lỗi của người phạm tội với tội này là lỗi cố ý.
Rất mong nhận được sự hợp tác !
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê