Thủ tục như thế nào (trong trường hợp tôi đang ở xa không về ký giấy tờ được, chỉ có vợ có thể ký)?. Khi bán mảnh đất đó thì có cần xác nhận của cả hai người hay không? Nếu không may khi ly hôn, chia tài sản sẽ như thế nào?.

Xin được sự tư vấn của công ty. Trân trọng cảm ơn.

Người gửi : Phạm Minh Tú

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê, chúng tôi giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2000 (văn bản mới: Luật hôn nhân gia đình năm 2014)

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ khoản 1 điều 27, Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng.

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

Việc vợ chồng bạn mua mảnh đất đó trong thời khi hôn nhân thì quyền sử dụng mảnh đất đó là tài sản chung của vợ chồng. Bạn có thể đứng tên cả vợ và chồng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất đó, trong trường hợp này bạn có thể đề nghị với Phòng công chứng ghi tên của vợ (chồng) vào bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong quá trình lập hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất.

Khi nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận bạn mang theo những giấy tờ sau đây, cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng.

+ Giấy đăng kí kết hôn

+ Chứng minh thư

+ Sổ hộ khẩu

.Quyền sử dụng mảnh đấy này là tài sản chung của hai vợ chồng, nên các giao dịch liên quan đến mảnh đấy này đều phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng.

Trường hợp hai vợ chồng ly hôn, việc chia quyền sử dụng đất của hai vợ chồng được quy định tại khoản 2, điều 97 Luật Hôn nhân gia đình:

2. Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thoả thuận của hai bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định tại Điều 95 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này;

d) Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.

Như vậy, việc chia quyền sử dụng đất sẽ dựa trên thỏa thuận của hai vợ chồng, nếu hai bên không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê