Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình.

- Bộ luật Dân sự 2015.

2. Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn pháp luật Dân sự của chúng tôi. Sau khi xem xét câu hỏi của bạn, chúng tôi xin đưa ra tư vấn như sau:

- Trước hết, cô và dượng của bạn không đăng ký kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1985 và có hai người con chung, thì theo quy định tại Khoản 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thi hành luật hôn nhân gia đình hướng dẫn Nghị quyết 35/2000 của Quốc hội quy định:

1. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Tức là, dù vào thời điểm năm 1985 cô và dượng của bạn không đăng ký kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng và có hai người con chung thì cô và dượng của bạn vẫn được công nhận là vợ chồng trên thực tế. Vì vậy, nếu quyền sử dụng đất mà dượng bạn đứng tên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì theo quy định tại Khoản 1 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quyền sử dụng đất này là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của cô và dượng của bạn:

"Điều 33: Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng."

Còn nếu quyền sử dụng đất này hình thành trước thời kỳ chung sống của cô và dượng của bạn mà quyền sử dụng đất mang tên dượng của bạn thì đó tài sản riêng của dượng bạn theo quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 43: Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng."

Tiếp theo, dượng của bạn đã bỏ đi từ năm 1997 nhưng gia đình không liên lạc được và không biết tin tức gì  theo quy định tại Khoản 1 Điều 71 Bộ Luật Dân sự 2015:

"Điều 71: Tuyên bố chết

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này."

Như vậy, cô của bạn muốn chuyển quyền sử dụng đất cho cô đứng tên thì cô của bạn phải yêu cầu Tòa án tuyên bố là dượng chị đã chết, từ đó có căn cứ để cô cùng hai người con làm thủ tục phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sử dụng đất mang tên của cô bạn. 

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Hai vợ chồng không đăng ký kết hôn, chồng mất tích từ lâu thì tài sản được giải quyết như thế nào ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Chuyên viên tư vấn pháp luật - Hà Thu - Bộ phận tư vấn pháp luật Nghĩa vụ quân sự - Công ty luật Minh Khuê