Tôi xin cảm ơn quý công ty!
Trả lời:
Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
2. Luật sư tư vấn:
1. Hợp đồng vận chuyển tài sản
Căn cứ Điều 530 Bộ luật dân sự năm 2015 định nghĩa về Hợp đồng vận chuyển tài sản, cụ thể như sau:
Hợp đồng vận chuyển tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.
2. Quyền và nghĩa vụ của bên vận chuyển
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về các quyền và nghĩa vụ của bên vận chuyển cụ thể tại Điều 534 và 535, như sau:
2.1 Quyền của bên vận chuyển
Bên vận chuyển có các quyền cụ thể như sau:
- Kiểm tra sự xác thực của tài sản, của vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương khác.
- Từ chối vận chuyển tài sản không đúng với loại tài sản đã thỏa thuận trong hợp đồng.
- Yêu cầu bên thuê vận chuyển thanh toán đủ cước phí vận chuyển đúng thời hạn.
- Từ chối vận chuyển tài sản cấm giao dịch, tài sản có tính chất nguy hiểm, độc hại, nếu bên vận chuyển biết hoặc phải biết.\
2.2 Nghĩa vụ của bên vận chuyển
Khi ký kết hợp đồng vận chuyển thì ngoài các quyền được quy định ở trên bên vận chuyển còn có các nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Điều 534 Bộ luật dân sự năm 2015, như sau:
"Điều 534. Nghĩa vụ của bên vận chuyển
1. Bảo đảm vận chuyển tài sản đầy đủ, an toàn đến địa điểm đã định, theo đúng thời hạn.
2. Giao tài sản cho người có quyền nhận.
3. Chịu chi phí liên quan đến việc chuyên chở tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
5. Bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển trong trường hợp bên vận chuyển để mất, hư hỏng tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".
Theo như bạn trình bày, thì giữa công ty bạn và công ty linh kiện điện tử có ký kết hợp đồng vận chuyển tài sản là linh kiện điện tử từ cửa khẩu hữu nghị về tỉnh Bắc ninh. Hợp đồng này được giao kết dựa trên sự thỏa thuận của các bên , bên vận chuyển( công ty bạn) phải có nghĩa vụ giao hàng đúng thời gian, địa điểm, bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển trong trường hợp bên vận chuyển để mất, hư hỏng tài sản. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Như vậy căn cứ theo quy định trên thì khi bạn ký kết hợp đồng vận chuyển thì bạn đã cam kết giao giao đầy đủ và đảm bảo an toàn cho phần hàng hóa được quy định trong hợp đồng.
3. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Điều 541 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển, cụ thể như sau:
"Điều 541. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Bên vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển nếu để tài sản bị mất hoặc hư hỏng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 536 của Bộ luật này.
2. Bên thuê vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên vận chuyển và người thứ ba về thiệt hại do tài sản vận chuyển có tính chất nguy hiểm, độc hại mà không có biện pháp đóng gói, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển.
3. Trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất, hư hỏng hoặc bị hủy hoại trong quá trình vận chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".
Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 nêu trên nếu như trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất, hư hỏng hoặc bị hủy hoại trong quá trình vận chuển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Như vậy nếu như trong trường hợp này giữa công ty bạn và công ty đối tác không có bất cứ một quy định nào thảo thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có sự kiện bất khae kháng xảy ra (các điều kiện về bất khả kháng) thì bên chứng minh được những thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất khả kháng mà bạn không thể lường trước được thì công ty bạn sẽ không phải bồi thường thiệt hại.
Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại được pháp luật dân sự quy định cụ thể tại Điều 585, cụ thể:
"Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình".
Như vậy, về nguyên tắc thiệt hại xảy ra sẽ được bồi thường toàn bộ, nhưng nếu thiệt hại xảy ra không phải do lỗi của bên vận chuyển hoặc bên vận chuyển có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của bên vận chuyển thì căn cứ theo quy định tại Khoản 2 nêu trên, bên vận chuyển sẽ được giảm mức bồi thường. Do vậy, trong trường hợp này phải xác định lỗi cụ thể có phải là do bên công ty bạn hay không, ví dụ như việc công ty bạn chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị để ứng phó với vấn đề thời tiết trong quá trình vận chuyền đường dài hay chưa, các trang thiết bị để đảm bảo an toàn cho hàng hóa có đảm bảo chất lượng hay không, các vật che chắn cho hàng hóa có chắc chăn hay không, ....từ đó mới có thể xác định được các yếu tố về lỗi cũng như mới có thể xác định được có phải là trường hợp hoặc sự kiện bất khả kháng hay không. Qua đó mới có thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ngoài ra Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có các quy định về những trường hợp được xác định là sự kiện bất khả kháng, cụ thể tại Khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về những trường hợp là sự kiện bất khả kháng, cụ thể như sau:
"Điều 156. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình".
Như căn cứ vào các quy định trên thì những trường hợp xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì sẽ được xác định là sự kiện bất khả kháng. Cho nên trong trường hợp này của bạn, có thể nhận thấy mưa là một hiện tượng tự nhiên và các bên không thể dự đoán trước được chính xác về hiện tượng này nên nếu như trong quá trình vận chuyển bên bạn đã có dự phòng và lường trước vấn đề này nhưng do vấn đề mưa quá lớn mà những trang thiết bị công ty bạn dự phòng để bảo vệ hàng hóa không thể đáp ứng được việc bảo đảm an toàn cho hàng hóa, khiến cho hàng hóa bị dính nước mưa thì đây được coi là môt sự kiện bất khả kháng.
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản bị mất, hư hỏng, hủy hoại trong quá trình vận chuyển sẽ do bên vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường, trừ trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng, các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác. Như vậy, trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại, thì sẽ dựa vào thỏa thuận đó.
Như vậy, trường hợp của bạn thuộc Khoản 3 Điều 541 Bộ luật dân sự năm 2015 và không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê