1. Quy định của pháp luật về hành vi khách quan của tội nhận hối lộ

Theo quy định tại Điều 354 Bộ Luật hình sự 2015, tội nhận hối lộ được quy định là người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, nhận lợi ích vật chất từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc /dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội tham nhũng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội nhận hối lộ theo quy định của pháp luật.

Như vậy, đưa hối lộ được hiểu là hành vi của người đưa tiền, tài sản hoặc bất kì lợi ích phi vật chất nào cho người có chức vụ, quyền hạn để người này làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Hành vi khách quan của tội đưa hối lộ là người đưa hối lộ đã có hành vi “đưa” của hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn. Hành vi đưa của hối lộ có thể được thực hiện một cách trực tiếp (người đưa trực tiếp đưa cho người nhận hối lộ) hoặc có thể gián tiếp qua trung gian (người môi giới hối lộ).

Đây là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Như vậy, đặc trưng mặt khách quan của tội nhận hối lộ là hành vi nhận “bất kỳ lợi ích nào” bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Hay có thể hiểu, hành vi khách quan của tội nhận hối lộ thường được thực hiện dưới hai dạng hành vi. Thứ nhất, hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ để làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ; Thứ hai, hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ sau khi đã thực hiện việc làm hay không làm theo thỏa thuận với người đưa hối lộ. Việc nhận của hối lộ có thể được thực hiện trước hoặc thực hiện sau khi người có chức vụ, quyền hạn đã làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Theo quy định tại Điều 354 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi nhận hối lộ thông qua sự thỏa thuận, thống nhất giữa người nhận hối lộ và người đưa hối lộ. Sự thỏa thuận giữa người nhận hối lộ và người đưa hối lộ là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, đòi hỏi giữa họ phải có sự trao đổi, thống nhất, đạt đến nhận thức chung và có sự cam kết, khẳng định, thỏa thuận bằng miệng, bằng văn bản giấy tờ hoặc thỏa thuận ngầm.....

Hình thức biểu hiện của hành vi nhận hối lộ rất đa dạng thể hiện “trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất dưới bất kỳ hình thức nào”. Như vậy, khi nhận của hối lộ, người phạm tội có thể nhận bằng hình thức trực tiếp hoặc qua trung gian. Trực tiếp nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất của người đưa hối lộ là  người nhận hối lộ trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc, nhận “của hối lộ” từ chính người đưa hối lộ mà không thông qua người khác

2. Chế tài đối với tội nhận hối lộ

 Người thực hiện hành vi nhận hối lộ tùy mức độ của hành vi có thể bị áp dụng các hình phạt sau:

- Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nhận:

+ Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

+ Lợi ích phi vật chất.

- Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, nếu thực hiện hành vi nhận hối lộ:

+ Có tổ chức;

+ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng; 

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

+ Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.

- Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm khi thực hiện hành vi nhận hối lộ mà:

+ Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.

- Phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, khi thực hiện hành vi nhận hối lộ mà;

+ Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

- Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

- Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều 354 Bộ Luật hình sự 2015.

3. Các yếu tố khác trong cấu thành tội nhận hối lộ

Bên cạnh hành vi khách quan, tội nhận hối lộ còn được mô tả một số các yếu tố trong cấu thành tội phạm như sau:

- Khách thể của tội phạm hối lộ:

Khách thể của loại tội phạm này là hoạt động đúng đắn, tính chuẩn mực trong công tác của cơ quan, tổ chức do nhà nước quy định. 

- Mặt chủ quan của tội nhận hối lộ

Mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp. 

Người phạm tội thấy trước họ là người có chức vụ, việc nhận tiền của là do lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nhận tiền của hối lộ là trái pháp luật, trái với quy định của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, người phạm tội đã mong muốn nhận được tiền của hối lộ.

- Chủ thể của tội nhận hối lộ

Theo khoản 1 Điều 352 Bộ Luật hình sự 2015 quy định “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. Với việc bổ sung dấu hiệu thực hiện “nhiệm vụ”, quy định này đã mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm về chức vụ bao gồm cả những người có chức vụ, quyền hạn thực hiện công vụ nhà nước giao và những người có chức vụ, quyền hạn thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan, tổ chức ngoài nhà nước. Khoản 6 Điều 354 BLHS năm 2015 cũng bổ sung quy định “Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này”.

Theo đó, chủ thể thực hiện tội nhận hối lộ “không chỉ là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước (cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp nhà nước…) mà còn có thể là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức ngoài nhà nước”. Bổ sung này “đã phản ánh được yêu cầu của thực tiễn và tương thích với công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng".

Chức vụ, quyền hạn được quy định trong tội nhận hối lộ liên quan trực tiếp đến việc giải quyết công việc của người đưa hối lộ. Trường hợp người có chức vụ nhưng chức vụ, quyền hạn của họ không liên quan đến việc giải quyết công việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì không coi là tội nhận hối lộ mà phạm vào tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi.

Để hiểu các nội dung pháp lý trên, Tham nhũng là gì? Các tội phạm về tham nhũng. 

Mọi thắc mắc liên hệ 19006162 hoặc email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp.

Trân trọng