1. Bất bình đẳng về kinh tế là gì?

Bất bình đẳng kinh tế (còn được gọi là khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng thu nhập) là chênh lệch giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia trong việc phân phối các tài sản, sự giàu có, hay thu nhập,…

2. Quan điểm về việc hạn chế bất bình đẳng về kinh tế trong xã hội

Xa hoa luôn luôn tỷ lệ với tình trạng bất bình đẳng về tài sản. Nếu trong một nước của cải được phân bổ công bằng thì sẽ không có xa hoa. Xa hoa là dựa trên những tiện nghi sắm được bằng lao động của kẻ khác.

Càng có nhiều dân số trong một vùng thì con người càng trở nên kiêu xa và họ nảy sinh ham muốn được trội hơn người khác bằng những thứ nhỏ nhặt. Một số người nghĩ rằng tập hợp thêm dân chúng vào thủ đô thì buôn bán sẽ giảm đi, vì người ta ở gần nhau hơn. Thực tế không phải vậy. Ở tụm lại với nhau người ta càng thêm nhiều dục vọng, nhiều nhu cầu, nhiều thị hiếu xa hoa, nên buôn bán tất nhiên càng tăng. Điều này đã đến khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng càng sâu sắc.

Trong chính thể Cộng hoà theo kiểu Platon (nhà triết học người Athen trong thời kỳ Cổ điển ở Hy Lạp cổ đại), sự xa hoa có thể tính được chính xác và định ra bốn mức thuế. Mức thứ nhất đánh vào người đã chấm dứt nghèo khổ. Mức này coi là bậc xa hoa số không. Mức thứ hai cao gấp đôi mức thứ nhất, được coi là bậc 1 xa hoa. Mức thứ ba cao gấp ba mức thứ nhất, được coi là bậc 2 xa hoa. Mức thứ tư cao gấp bôn lần thứ nhất, được coi là bậc 3 xa hoa... và cứ thế theo toán học mà tính thuế. Người sau xa hoa gấp đôi người trước thì cách tính cộng thêm 1 đon vị theo cách luỹ tiến: 0, 1, 3, 7, 15, 31, 63, 127...

Có thể nói, các chính trị gia và các nhà làm luật ngày nay đã ý thức rõ về hệ quả của khoảng cách giàu nghèo trong xa hội. Đó là những bài học được rút ra từ chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa.

3. Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội phong kiến

Khoảng cách giàu nghèo và sự bất đình đẳng về kinh tế là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chế độ phong kiến.

Trong xã hội phong kiến, bên cạnh quyền lực của vua chúa phong kiến thì mỗi địa chủ phong kiến đều thiết lập và duy trì quyền lực riêng của mình trên những phạm vi lãnh thổ nhất định. Dù ở thời kỳ phân quyền cát cứ hay thời kỳ trung ương tập quyền thì quyền lực trong xã hội phong kiến cũng luôn mang tính đẳng cấp khắc nghiệt. Điều này dẫn tới tình trạng người nông dân phải chịu rất nhiều tầng nấc áp bức bóc lột.

>> Xem thêm:  Cư trú chính trị là gì ? Những người được hưởng quyền cư trú chính trị

Dưới chế độ phong kiến, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu bởi vì sản xuất nông nghiệp chí phối gần như toàn bộ nền sản xuất của xã hội. Đất đai chủ yếu nằm trong tay vua chúa phong kiến cũng như các địa chủ lớn nhỏ. Người nông dân hầu như không có ruộng đất và nếu có thì cũng rất ít và khó có thể giữ được. Do chế độ sưu cao, thuế nặng, họ phải cầm cố hoặc bán đất cho địa chủ. Ở các nước phương Đông, vua được coi là chủ sở hữu tối cao đối với đất đai và là chủ sở hữu không hạn chế đối với các tài sản khác.

Chính vì vậy, Nhà nước phong kiến rất quan tâm tới việc bảo vệ và phát triển sở hữu phong kiến, đặc biệt là đất đai. Nhà nước phong kiến bằng pháp luật, bằng các biện pháp kinh tế và bằng cả bạo lực, không loại trừ một biện pháp, hình thức nào mà không sử dụng để bảo vệ và phát triển sở hữu phong kiến. Mọi hành vi xâm hại tới sở hữu phong kiến đều bị Nhà nước phong kiến, cùng địa chủ phong kiến trừng phạt rất khắc nghiệt. Bằng việc bảo vệ các hình thức sở hữu phong kiến, Nhà nước phong kiến đã củng cố, duy trì các hình thức bóc lột tàn nhẫn của địa chủ phong kiến đối với nông dân và những người lao động khác. Bằng các chính sách về sưu thuế Nhà nước phong kiến còn trực tiếp tham gia vào việc bóc lột một cách không thương xót đối với nông dân. Sự bóc lột của địa chủ phong kiến, quý tộc đối với nông dân càng ngày càng tinh vi, thâm hiểm hơn. Ngoài ra, nông dân còn phải nộp nhiều khoản khác nhau cho nhà thờ, cho tầng lớp tăng lữ có thể nói hầu hết các đẳng cấp quan lại trong xã hội phong kiến đều sống bằng cách bòn rút của cải và sức lực của người nông dân.

Trong xã hội phong kiến, kẻ có quyền là kẻ có tiền. Còn những người dân thì suốt đời chịu cảnh áp bức, sống trong cảnh nghèo khổ. Nhiều nạn đói và dịch bệnh hoành hành. Trong khi giai cấp thống trị vẫn dùng của cải bóc lột được mà ăn chơi xa đọa.

Trong lịch sử Trung Hoa, hai mươi hai triều đại nối tiếp nhau. Ba triều đại đầu kéo khá dài vì cai trị thông minh và đất nước chưa rộng lắm. Nhưng cũng có thể nói chung là các triều đại đều khá trong giai đoạn đầu. Tính đạo đức, cẩn thận, cần mẫn rất cần cho buổi đầu của mỗi triều đại ; nhưng về sau những đức tính ấy mất dần đi. Thường là cảc ông vua đầu triều đại chịu đựng gian khổ qua chiến chinh, đã đánh đổ ông vua trước đang chìm trong xa hoa lạc thú. Nhưng đến đời vua thứ ba, thứ tư thì bị thói xa hoa, đồi bại, lười biếng, trác táng quyến rũ. Họ khép mình trong cung điện, đầu óc thoái hoá, đồi sống rút ngắn lại, hoàng tộc cũng suy vi. Các vị đại thần ngoi lên. Bọn hoạn quan được tin dùng. Bọn họ đặt mấy chú bé con lên ngai vàng. Cung điện trở thành kẻ thù của đất nước. Bọn ăn không ngồi rồi trong cung đình bòn rút hết của cải người lao động. Thế rồi ông vua bị một tên gian hùng thoán đoạt giết hại hoặc thanh toán đi. Một triều đại mới xuất hiện để rồi các ông vua thứ ba, thứ tư của nó lại chìm trong cung điện chẳng khác gì triều đại cũ.

Khi người nông dân nổi dậy Nhà nước phong kiến cũng như từng lãnh chúa phong kiến đã sử dụng mọi biện pháp, thủ đoạn có thể để đàn áp quần chúng nhân dân. Biện pháp phổ biến là bạo lực như dùng quân đội để đàn áp, chém giết không thương xót đối với nông dân, ngoài ra còn giam cầm, tra tấn, đánh đập nông dân đến chết. Trong những trường hợp nổ ra các cuộc khởi nghĩa nông dân thì Nhà nước phong kiến, các chúa phong kiến luôn chi viện cho nhau, cùng nhau đàn áp dã man nông dân.

Do đó, một mình giai cấp nông dân không có khả năng làm cách mạng, chừng nào họ còn đứng trước lực lượng có tổ chức của các vương công, quý tộc và thành thị thông nhất và đoàn kết với nhau. Khi nền kinh tế phát triển, những nhà buôn giàu lên nhờ hoạt động thương mại hàng hóa. Đây là sự ra đời của giai cấp tư sản, họ có tiền nhưng vẫn luôn chịu sự kìm kẹp của giai cấp quý tộc thống trị. Qua thời gian họ ngày càng lớn mạnh với tiềm lực kinh tế, họ đã vùng lên lãnh đạo nhân dân lật đổ phong kiến, đánh đổ Nhà nước chuyên chế.

4. Sự phân hóa giàu nghèo của chế độ tư bản

Chế độ Tư bản chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển nền kinh tế thương mại. Những thương nhân giàu lên nhờ sản xuất và buôn bán là những người nắm phần đa dòng tiền trong xã hội.

Trong xã hội Tư bản sự phân hóa giàu nghèo vẫn tồn tại. Sự bót lột giữa giai cấp tư sản đối với giai cấp công – nông là bản chất của chế độ này.

Những người giàu sẽ cùng với nhau chi phối nền kinh tế và chính trị. Để đòi lại sự công bằng và lợi ích, giai cấp công nông lại nổi đây đấu tranh dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Nhiều cuộc cách mạng đã nổ ra trên thế giới. Tại nhiều quốc gia giai cấp công – nông giành thắng lợi và lập nên chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Tại nhiều quốc gia, tuy không giành thắng lợi hoàn toàn nhưng những cuộc đấu tranh này buộc giai cấp tư sản phải thay đổi đường lối kinh tế, chính trị. Trong đó, họ đề cao dân chủ và lập nên chế độ Cộng hòa Dân chủ mà ngày nay đa phần các quốc gia trên thế giới đi theo.

>> Xem thêm:  Chế độ chính trị là gì ? Mối quan hệ giữa nhà nước với Đảng chính trị, tổ chức xã hội

5. Chính sách về kinh tế - xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam

Có thể nói, Xã Hội Chủ Nghĩa là một chế độ bình đẳng nhất và ưu việt nhất trong xã hội loài người hiện đại ngày nay. Ở đây, đề cao quyền và lợi ích của con người mà không phân biệt giai cấp hay địa vị xã hội. Vậy trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Việt Nam đã và đang làm những gì để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo?

5.1. Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam điều chỉnh phương hướng phát triển kinh tế

Trong giai đoạn hơn 10 năm, từ 2001-2011, đã có tổng cộng 211 văn bản chính sách pháp luật liên quan đến phát triển vùng DTTS phía Bắc được ban hành. Trong đó, riêng giai đoạn 5 năm từ 2006-2010 có 143 văn bản có hiệu lực. Đến thời điểm 2012, trong tổng số 206 văn bản, không kể 05 văn bản nghị quyết của Quốc hội, có 56 văn bản đã hết hiệu lực (chiếm 27,8%), 11 văn bản còn hiệu lực một phần (5,47%), 139 văn bản còn hiệu lực (69,1%). Số văn bản còn hiệu lực gần xấp xỉ giai đoạn trước là 143. Về nghị quyết, nghị định của Chính phủ trong số 43 văn bản, có 8 văn bản hết hiệu lực, 7 văn bản còn hiệu lực một phần và 28 văn bản vẫn còn hiệu lực (65%). Về quyết định của Thủ tướng Chính phủ có tới 26 văn bản, tức là một phần ba số văn bản hết hiệu lực, số còn hiệu lực một phần là 3 văn bản và 59 văn bản còn hiệu lực, bao gồm cả các văn bản mới được ban hành.

Hầu hết các khía cạnh của phát triển kinh tế, xã hội đã được hệ thống chính sách đề cập, điều chỉnh nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý mang tính nền tảng cho các hoạt động kinh tế, xã hội cũng như thúc đẩy trợ giúp cho các vùng, các đối tượng ưu tiên trong phát triển, đặc biệt là vùng núi cao, biên giới và vùng dân tộc. Đánh giá cả giai đoạn 2000-2010, có thể thấy rằng, có nhiều bước tiến trong tiến trình phát triển, điều này một lần nữa khẳng định sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đối với sự nghiệp phát triển vùng đồng bào dân tộc cả nước nói chung và vùng MNPB nói riêng. Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Công tác dân tộc đến năm 2020 theo Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12/03/2013 và Chương trình hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 4/4/2013 là những minh chứng khẳng định sự tiếp tục quan tâm đặc biệt của Đảng, Chính phủ đối với sự nghiệp phát triển các dân tộc.

Hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước về phát triển vùng DTTS đến nay tương đối toàn diện, nhất là chính sách xã hội và ngày càng được cụ thể, chi tiết hoá để làm tăng tính phù hợp, hiệu lực, hiệu quả. Quy trình xây dựng chính sách đã từng bước bảo đảm những nguyên tắc đề ra, có tính khoa học và tính phối hợp cao hơn.

Cơ sở thông tin, nghiên cứu, dự báo chuẩn bị cho xây dựng chính sách từng bước được đầy đủ hơn. Trong quá trình này, cấp địa phương, đặc biệt là người dân đã được tham gia vào quá trình tư vấn chính sách, đề đạt nguyện vọng nhu cầu phát triển, mặc dù việc kết nối kết quả chưa được nhiều.

Việc thẩm định, tư vấn về các chính sách, chương trình, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội do các bộ, ngành xây dựng và quản lý đã có những tiến bộ nhất định. Việc kiểm tra, đánh giá, giám sát thực hiện chính sách dân tộc được tiến hành ở các cấp địa phương và trung ương theo thẩm quyền đã giúp quá trình điều chỉnh chính sách kịp thời.

5.2. Những chính sách về thuế nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo

Từ năm 2011, tất cả các luật thuế chính của Việt Nam đã được sửa đổi và bổ sung, gồm Luật Thuế Giá trị Gia tăng (VAT), Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp (CIT), Luật Thuế Thu nhập Cá nhân (PIT) và Luật Thuế Thu nhập Đặc biệt (SCT). Luật Thuế Xuất Nhập khẩu được Quốc hội thông qua vào tháng 4/2016. Các thay đổi trong thu ngân sách nhà nước theo tỷ lệ phần trăm GDP danh nghĩa được miêu tả trong Hình 10. Tỷ lệ thuế trên GDP của Việt Nam tăng trong những năm gần đây, từ chỉ dưới 22% năm 2001 lên trên 28% năm 2010, trong đó thu từ thuế và phí (không tính dầu thô) tăng từ 15,1% lên 22,3%. Trung bình, tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP danh nghĩa trong giai đoạn 2001-2010 là 26,7%. Tỉ lệ này ở mức khá so với các quốc gia đang phát triển khác, nhiều quốc gia trong số đó còn có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn nhiều so với Việt Nam.

Thu thuế giảm ở hầu hết các loại thuế chính và các mặt hàng thu, trong đó doanh thu dầu mỏ, VAT và doanh thu thuế thương mại giảm nhiều nhất (Hình 11). Giảm thu ngân sách gây ra một số vấn đề cho Việt Nam trong việc duy trì vị trí tài chính. Thâm hụt tài chính đã ở mức báo động trong mấy năm qua, đặc biệt từ năm 2011. Thâm hụt tài chính thực tế trong giai đoạn 2011-2015 ước tính khoảng 5,34% GDP, cao hơn mức bình quân 5,07% GDP trong giai đoạn 2006-2010 và cũng cao hơn mục tiêu 5% GDP do Chính phủ đặt ra năm 2011. Một nguyên nhân chính khiến thâm hụt ngân sách tăng là do Chính phủ tiến hành một gói kích cầu lớn sau năm 2009 để ứng phó khủng hoảng, tạo ra những lợi ích tích cực rõ rệt cho người lao động và cho nền kinh tế nói chung. Nếu không có gói kích cầu này, tình trạng nghèo và bất bình đẳng có thể đã tăng nhiều hơn.

Về cơ cấu doanh thu, Việt Nam dựa chủ yếu vào thuế thu nhập doanh nghiệp, VAT và thuế xuất nhập khẩu (Hình 12). Thu thuế thu nhập doanh nghiệp tăng từ 3,1% GDP lên 4,71% GDP (không tính thuế thu nhập doanh nghiệp từ dầu khí). Tuy nhiên, từ năm 2011, quy mô thu thuế thu nhập doanh nghiệp đã giảm. Năm 2015, tổng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp dự tính khoảng 4,35% GDP. Trong giai đoạn 2001 - 2010, tỷ lệ thu thuế VAT theo phần trăm GDP tăng từ 4,02% lên 7,98%. Tỷ lệ thu thuế tiêu thụ đặc biệt tăng từ 1,58% lên 2,31%. Thuế VAT tăng thường tạo gánh nặng lớn nhất (theo tỷ lệ tương ứng) cho người nghèo vì người nghèo có khuynh hướng là chi tiêu phần lớn hay tất cả thu nhập kiếm được mà không để đầu tư như người giàu. Mặc dù thu nhập kém hơn nhưng với cùng một loại hàng hóa người nghèo phải trả VAT như người giàu; bởi vì mức thuế VAT không tính đến khả năng chi trả của người tiêu dùng.

>> Xem thêm:  Hệ thống chính trị là gì ? Đặc điểm của hệ thống chính trị ?

Tránh và trốn thuế cũng là những vấn đề nghiêm trọng. Nghiên cứu cho thấy 720 trong số 870 công ty nước ngoài tại Việt Nam đã có những hành vi gian lận thuế trong năm 2013 và 923 công ty trong nước đã trốn thuế. Một cuộc điều tra toàn quốc về trốn thuế149 cho thấy 83% công ty nước ngoài sử dụng các chiêu trò khác nhau để giảm thiểu trách nhiệm đóng thuế trong năm 2015. Các thanh tra viên thuộc Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) đã yêu cầu 720 trong số 870 công ty nước ngoài trả gần 400 tỷ VND (19 triệu USD) tiền thuế truy thu và tiền phạt trốn thuế. Theo báo cáo này, ở một số tỉnh như Bắc Giang, Hòa Bình, và Gia Lai, 100% công ty nước ngoài có những vi phạm về thuế. Cuộc điều tra cho thấy sách lược trốn thuế phổ biến nhất là chuyển lợi nhuận bằng cách chuyển giá để khai khống chi phí khi nhập khẩu từ các đơn vị cùng công ty ở các quốc gia khác, trong khi khai giảm giá trị xuất khẩu. Các ưu đãi thuế hào phóng cũng tạo ra chi phí cơ hội cao tính theo số thu mất đi. Chi phí sử dụng các chính sách ưu đãi thuế cho riêng các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có thể đã vượt 5% tổng thu ngân sách nhà nước150. Vấn đề nguy cơ là ngày càng có nhiều người dân Việt Nam phải đóng thuế thu nhập cao hơn các công ty khi thu nhập của người dân tăng, nhất là khi mức thuế thu nhập doanh nghiệp đã giảm xuống chỉ còn 20% trong khi ba biên độ thuế thu nhập cá nhân là 25%, 30% và 35% được áp dụng đối với những người được trả cao hơn. Hơn nữa, các hình thức miễn thuế khác nhau cho các công ty dưới hình thức các ưu đãi thuế, miễn giảm thuế trong thời gian nhất định, và các thỏa thuận cụ thể có nghĩa là nhiều công ty được giảm thêm thuế lợi nhuận của họ, giảm tính lũy tiến của hệ thống thuế nói chung. Ngoài ra còn có các lỗ hổng giúp việc trốn thuế lấy đi nguồn thu ngân sách nhà nước có thể dùng thể tăng chi để giảm bất bình đẳng.

Nghiên cứu của Oxfam về “nỗ lực” thu thuế của các quốc gia khác nhau cho thấy Việt Nam vẫn còn một số tiềm năng đáng kể để thu thêm thuế nếu tính tới quy mô và cơ cấu của nền kinh tế. Phát hiện này cho thấy mức thuế hiện thời có thể xem xét để tăng tính lũy tiến và nhìn chung có thể tăng thêm tiền thuế. Ví dụ, Việt Nam đã giảm mức thuế doanh nghiệp từ 28% xuống 25% năm 2009, xuống 22% năm 2014 và giờ ở mức 20%. Đáng chú ý, như vậy cũng có nghĩa lợi nhuận công ty đang được đánh thuế ở mức thấp hơn ba biên độ thuế thu nhập cá nhân. Chính phủ có thể làm thêm nhiều việc để tăng thu thuế thông qua rà soát các mức thuế và đồng thời đảm bảo đánh thuế lũy tiến, nếu không có nguy cơ là nguồn thu bổ sung cần cho các dịch vụ công sẽ được thu theo cách ngày càng bất bình đẳng.

5.3. Về chính sách chi tiêu công nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo

Chi tiêu công giữ vai trò quan trọng đảm bảo mọi nhóm dân trong xã hội có cơ hội bình đẳng hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế, tạo ra các kết quả bình đẳng về phát triển kinh tế và con người. Ngân sách nhà nước tăng từ 20% GDP vào năm 1999 lên đến gần 30% năm 2014154, một mức cao hơn nhiều so với hầu hết các quốc gia đang phát triển khác. Bằng chứng cho thấy một phần ngân sách hợp lý được dành cho các mục tiêu giảm nghèo. Tổng ngân sách giảm nghèo (cả trực tiếp và gián tiếp) ước tính lên 15,5% tổng chi của nhà nước giai đoạn 2005 - 2012. Năm 2009, chi cho bảo trợ xã hội đạt 4,7% GDP, tỷ lệ cao nhất ở Đông Nam Á. Hơn nữa, từ giữa những năm 2000 đã có những thay đổi để cải thiện tác động đối với các nhóm DTTS, mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế và ứng phó khủng hoảng tài chính và kinh tế. Từ năm 2002, tăng phân cấp tài chính của chính phủ dẫn tới cấp nhiều kinh phí hơn cho các vùng nghèo, và việc bổ sung các chương trình mục tiêu hướng tới nhóm người rất nghèo. Việc tái phân bổ thu nhập đáng kể như vậy cho phép một cách tiếp cận linh hoạt và ứng phó nhanh nhạy hơn với công tác giảm nghèo. Tuy nhiên, hiện cũng có nguy cơ các tỉnh mặc dù có tỷ lệ nghèo thấp nhưng có khả năng huy động ngân sách cho địa phương tốt hơn, điều này làm tăng thêm bất bình đẳng theo vùng. Thực tế vẫn có những bằng chứng về tình trạng không có lợi cho người nghèo trong phân bổ hỗ trợ giữa các tỉnh.

5.4. Chính sách về việc làm và lương nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo

Khoảng một phần ba số người làm công ở Việt Nam phụ thuộc vào lương để sống, so với mức trung bình toàn cầu trên 50%. Năm 2013, lao động hưởng lương chiếm 34,8% tổng việc làm. Trong khi nông nghiệp chiếm khoảng 47% lực lượng lao động, ngành này chỉ chiếm 10% số lao động ăn lương. Nông nghiệp cũng có một trong những mức lương tháng trung bình thấp nhất (2,63 triệu VND hay 125 USD), so với lương lao động trong khu vực “môi giới tài chính, ngân hàng và bảo hiểm” có thu nhập 7,23 triệu VND (344 USD) một tháng, theo Điều tra Lực lượng Lao động 2014. Khoa học, công nghệ và bất động sản cũng là những ngành có lương tháng trung bình cao (con số tương ứng là 6,53 triệu VND hay 311 USD, và 6,4 triệu VND hay 305 USD). Dù khoảng cách thu nhập theo giới nói chung ở Việt Nam chỉ thấp hơn 10% một chút, nhưng khoảng cách này rộng nhất trong ngành nông nghiệp lương thấp, nơi phụ nữ có thu nhập thấp hơn nam 32%. Lương tối thiểu được tính theo vùng, từ 2,15 triệu VND đến 3,1 triệu VND (101-146 USD) một tháng, cho cả bốn vùng. Lương tối thiểu tăng trung bình 67%, ở tất cả các vùng, theo giá trị thực trong giai đoạn 2011- 2015, nhờ chính sách của Chính phủ. Nhưng việc tăng lương tối thiểu chỉ áp dụng cho lao động ở khu vực chính thức và có kỹ năng (tỷ lệ nhỏ trong tổng số lao động) chứ không áp dụng với lao động ở khu vực phi chính thức và không có kỹ năng. Hơn nữa, lương tối thiểu không đáp ứng nhu cầu tối thiểu.

Trong khi chính sách lương tối thiểu nhằm đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ nhưng thực ra mới chỉ đảm bảo được 60% mức sống của người lao động. Tăng lương tối thiểu làm hạn chế thu nhập và lợi nhuận của công ty. Mặc dù mục tiêu chính của lương tối thiểu là bảo vệ người lao động thu nhập thấp, lương của người lao động có kỹ năng thường tăng cùng với tăng lương tối thiểu do thương lượng tập thể về lương rất hiếm. Tình trạng không có đối thoại và thương lượng thường dẫn tới đình công tự phát như là một cách để công nhân cố gắng đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc. Nghiên cứu cũng cho thấy ngay cả khi lương tăng, các doanh nghiệp vẫn có thể “bóp méo luật” bằng cách giảm “quyền lợi mềm” hay các ưu đãi làm việc ngoài giờ để đảm bảo tổng lương thực trả không bị ảnh hưởng. Hiện ngày càng tăng tỷ lệ doanh nghiệp phá sản (54.000 doanh nghiệp trong năm 2014), thiếu việc làm, thất nghiệp, và chuyển từ thất nghiệp sang khu vực phi chính thức (36,6% số người thất nghiệp năm 2015). Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp sống sót phải giảm một phần quyền lợi và thưởng “lương mềm” của người lao động, có thể chiếm tới 30% thu nhập.

>> Xem thêm:  Tổ chức chính trị là gì ? Quy định Luật Hiến Pháp về hệ thống chính trị ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Kiểu Nhà nước phong kiến là gì?

Trả lời:

Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là phương thức sản xuất phong kiến với nét đặc trưng là chế độ chiếm hữu ruộng đất của vua chúa phong kiến và giai cấp địa chủ. Lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội là giai cấp nông dân. Xã hội phong kiến có kết cấu xã hội phức tạp, giai cấp thống trị trong xã hội gồm vua, chúa, quan lại, quý tộc (công, hầu, bá, tử, nam), địa chủ, tăng lữ, cố đạo... Giai cấp bị thống trị là các tầng lớp nông dân nghèo, những người lao động tự do, tầng lớp tiểu thương và nông nô.

Câu hỏi: Giai cấp công nhân trong xã hội tư bản hiện đại có những được điểm cơ bản nào?

Trả lời:

 Cùng với sự phát triển kinh tế, cơ cấu xã hội, giai cấp trong chủ nghĩa tư bản hiện đại cũng trở nên phong phú, đa dạng hơn. Ngay cơ cấu giai cấp công nhân cũng có những sự thay đổi lớn, quan trọng. Bên cạnh lực lượng đông đảo những công nhân truyền thống, những người lao động làm thuê trực tiếp làm việc trong các dây chuyền sản xuất, lưu thông của các công ty, tập đoàn tư bản, họ được xem là những “công nhân cổ xanh” (trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, họ cũng đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật đến một trình độ nhất định, phải được đào tạo mới đáp ứng được yêu cầu công việc), còn có một bộ phận người lao động làm thuê có trình độ cao, có thu nhập cao, đảm nhận các vị trí lãnh đạo, quản lý, chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau trong guồng máy sản xuất của tư bản, họ được xem là những “công nhân cổ trắng”. Công nhân cổ trắng cùng với tầng lớp công chức, viên chức nhà nước, các luật sư, bác sĩ, giáo sư các trường đại học, các viện nghiên cứu,... trở thành tầng lớp trung lưu của xã hội. Ở các nước tư bản phát triển, tầng lớp trung lưu chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong cơ cấu xã hội, ở giữa hai cực là giai cấp tư sản giàu có và những người lao động có mức sống thấp, những người thất nghiệp có cuộc sống vô cùng khó khăn.

Câu hỏi: Quy định của Hiến pháp đối với sự thu hẹp khoảng cách về giáo dục?

Trả lời:

Về giáo dục, Hiến pháp quy định công dân có quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 39) và tiếp tục khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đồng thời quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý; ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề (Điều 61).