Hệ số co giãn giá của nhu cầu (price elasticity of demand) là đại lượng cho biết mức phản ứng của nhu cầu đối với một mức thay đổi nhất định của giá cả. Nó được tính như sau:

p Q„

Hình 58. Hệ số co gian giá của nhu cầu. (a) nhu cầu co giãn, (b) nhu cầu không co giãn hay ít co giãn.

Nếu 1 % thay đổi trong giá cả dẫn tới sự thay đổi lớn hơn 1 % Trong lượng cầu, thì nhu cầu được coi là co giãn đối với giá cả (hình 58a). Nếu ỉ % thay đổi trong giá cả dẫn tới sự thay đổi nhỏ hơn 1% trong lượng cầu, thì nhu cầu được coi là không co giãn hay ít co giãn đối với giá cả (hình 58b). Trong trường hợp cực đoan, nhu cầu có thể hoàn toàn không co giãn đối với giá cả và điều này được biểu thị bằng đường cầu thẳng đứng; hoặc nhu cầu có thể hoàn toàn co giãn đối với giá cả, nghĩa là lượng cầu có thể nhận bất cứ giá trị nào tại mức giá hiện hành và đường cầu là đường nằm ngang.

Tổng doanh thu (P X Q) bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của giá cả. Nếu nhu cầu co giãn với giá cả, sự gĩàm giá trên quy mô nhỏ sẽ làm lượng cầu tăng trên quy mô lớn, do đó biện pháp cắt giảm giá được dùng để tăng tổng doanh thu và biện pháp tăng giá được dùng để cắt giảm tổng doanh thu. Ngược lại, nếu nhu cầu không co giãn với giá cả, sự giảm giá trên quy mô lớn chi làm lượng cầu lăng trên quy mô nhỏ. Vì vậy biện pháp cắt giảm giá duợc dùng để cắt giảm tổng doanh thu và biện pháp tăng giá được dùng để làm tăng tổng doanh thu. Khi nhu cầu co giãn đơn vị (hệ số co giãn giá bằng 1), một phần trăm cắt giảm giá cả làm cho lượng cầu giảm một phần trăm và tổng doanh thu không thay đổi.

Cổn lưu ý rằng hệ số co giãn giá của nhu cầu thay đổi dọc theo đường cầu. Ví dụ, mặc dù đường cầu trong hình 58a nhìn chung là co giãn, nhưng tại điểm X, nhu cầu co giẫn hơn tại điểm y.

Khái niệm hệ số co giãn giá của nhu cầu có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc xác định giá sản phẩm, kể cả chiến lược phân biệt giá. Đối với chính phủ, nó quan trọng trong việc xác định mức thuế gián thu để tăng nguồn thu cho ngân sách.