Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi tri thức, sáng tạo và sản phẩm tinh thần trở thành nền tảng của sự phát triển kinh tế – văn hóa, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò then chốt nhằm khuyến khích tác giả, nghệ sĩ và những chủ thể sáng tạo tiếp tục cống hiến cho cộng đồng. Tuy nhiên, pháp luật không bảo hộ các tác phẩm một cách vô hạn, bởi mục tiêu cuối cùng của hệ thống sở hữu trí tuệ không chỉ nằm ở việc bảo vệ quyền lợi cá nhân mà còn hướng tới việc thúc đẩy tri thức chung, giúp cộng đồng được tiếp cận, khai thác và phát triển thêm các giá trị sáng tạo đã có. Chính vì vậy, khi thời hạn bảo hộ kết thúc, tác phẩm bước sang một giai đoạn pháp lý mới – giai đoạn mà quyền tiếp cận không còn bị giới hạn bởi sự độc quyền của chủ sở hữu. Việc tác phẩm “thuộc về ai” sau khi hết hạn bảo hộ không chỉ mang ý nghĩa pháp lý thuần túy, mà còn phản ánh triết lý nhân văn và sự cân bằng giữa lợi ích của tác giả và quyền tiếp cận tri thức của xã hội.

 

1. Quyền sở hữu trí tuệ là gì?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi 2009, 2019 và 2022, quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là quyền của cá nhân và tổ chức đối với những tài sản vô hình được tạo ra từ hoạt động sáng tạo của con người. Đây là loại quyền gắn với thành quả trí tuệ, phản ánh sự kết tinh công sức, chất xám và năng lực sáng tạo, qua đó được pháp luật bảo hộ nhằm khuyến khích sự phát triển của tri thức và công nghệ. Quyền sở hữu trí tuệ bao trùm ba nhóm quyền cơ bản: quyền tác giả và các quyền liên quan đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hay các hoạt động biểu diễn và phát sóng; quyền sở hữu công nghiệp gắn với các giải pháp kỹ thuật, dấu hiệu nhận diện và các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, như sáng chế, kiểu dáng hay nhãn hiệu; và quyền đối với giống cây trồng, bảo vệ thành quả chọn tạo hoặc phát hiện – phát triển giống mới trong lĩnh vực nông nghiệp. Ba nhóm quyền này hợp thành một chỉnh thể thống nhất, thể hiện phạm vi toàn diện của quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm cho chủ thể sáng tạo có cơ sở pháp lý để khai thác, sử dụng và bảo vệ thành quả của mình trong đời sống xã hội.

Bản chất của quyền sở hữu trí tuệ nằm ở việc pháp luật thừa nhận và bảo hộ những giá trị vô hình được tạo ra bằng lao động trí óc của con người, coi chúng là một dạng tài sản đặc biệt mà chủ thể sáng tạo có quyền chiếm hữu, sử dụng và khai thác tương tự như tài sản vật chất. Khác với tài sản hữu hình, sản phẩm trí tuệ không thể nắm giữ hay tiêu dùng theo nghĩa vật lý mà tồn tại dưới dạng thông tin, tri thức, hình thức thể hiện và giá trị sáng tạo. Chính vì thế, quyền sở hữu trí tuệ mang tính độc quyền tương đối, không phải để chiếm giữ vật chất mà để kiểm soát việc khai thác và sử dụng sản phẩm trí tuệ nhằm bảo vệ công sức, chi phí, thời gian và năng lực sáng tạo của chủ thể. Quyền này chỉ được hình thành khi có sự thừa nhận của pháp luật, bởi không thể tự phát sinh khả năng chiếm hữu vật lý như tài sản thông thường.

Bản chất của quyền sở hữu trí tuệ cũng thể hiện ở tính khuyến khích sáng tạo: pháp luật tạo ra hành lang bảo vệ độc quyền trong một thời gian nhất định để chủ thể có động lực tiếp tục sáng tạo, đầu tư và đóng góp tri thức mới cho xã hội. Đồng thời, quyền sở hữu trí tuệ còn mang bản chất cân bằng lợi ích giữa cá nhân sáng tạo và cộng đồng: người tạo ra được bảo vệ quyền lợi chính đáng, trong khi xã hội được tiếp cận tri thức, kỹ thuật, tác phẩm và giống cây trồng mới khi thời hạn bảo hộ kết thúc hoặc thông qua cơ chế sử dụng hợp lý. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ mang bản chất vừa là quyền tài sản đối với các sản phẩm sáng tạo tinh thần, vừa là công cụ pháp lý thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, văn hóa và nông nghiệp, đồng thời đảm bảo trật tự cạnh tranh và lợi ích xã hội trong nền kinh tế tri thức.

2. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là bao lâu? 

2.1. Những quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn 

Theo khoản 1 điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 thì Quyền nhân thân quy định tại các khoản 1,2 và 4 Điều 19 của Luật này được bảo hộ vô thời hạn. Thêm vào đó căn cứ điều 19 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2022 thì Quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn bao gồm những quyền sau:

- Quyền đặt tên cho tác phẩm

Quyền đặt tên cho tác phẩm là quyền nhân thân thể hiện dấu ấn cá nhân của tác giả đối với đứa con tinh thần của mình. Tên tác phẩm không chỉ nhằm nhận diện mà còn thể hiện ý tưởng, phong cách hoặc thông điệp của tác giả. Mặc dù là quyền nhân thân, pháp luật cho phép tác giả chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên cho tổ chức hoặc cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản, nhằm đảm bảo sự linh hoạt trong việc khai thác thương mại tác phẩm mà vẫn tôn trọng vai trò sáng tạo của tác giả.

- Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên khi tác phẩm được công bố hoặc sử dụng

Quyền này gắn liền với danh dự, nhân phẩm và sự ghi nhận của xã hội đối với tác giả. Việc đứng tên thật hoặc bút danh thể hiện sự xác lập mối quan hệ không thể tách rời giữa tác giả và tác phẩm. Khi tác phẩm được công bố hay sử dụng, việc nêu tên của tác giả là bắt buộc nhằm tôn trọng công sức sáng tạo và bảo vệ tác giả khỏi tình trạng chiếm đoạt hoặc xâm phạm quyền tác giả.

- Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm (không cho người khác sửa đổi, xuyên tạc, cắt xén gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả)

Quyền này nhằm bảo đảm rằng tác phẩm được bảo vệ nguyên bản theo đúng tinh thần, ý tưởng và nội dung mà tác giả muốn truyền tải. Việc sửa chữa, cắt xén hay xuyên tạc tác phẩm có thể làm biến dạng thông điệp, làm sai lệch ý tưởng sáng tạo và gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của tác giả. Vì vậy, pháp luật quy định quyền này là bất khả xâm phạm và được bảo hộ vô thời hạn để bảo đảm sự tôn trọng đối với thành quả sáng tạo.

2.2 Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả 

Theo khoản 2 điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 thì Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân (khoản 3 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2022) và quyền tài sản (Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2022) được quy định như sau:

a) Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng và tác phẩm khuyết danh:

  • Thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu.
  • Nếu tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong vòng 25 năm kể từ khi được định hình, thì thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi tác phẩm được định hình.
  • Đối với tác phẩm khuyết danh, khi xuất hiện thông tin về tác giả, thời hạn bảo hộ sẽ được tính lại theo quy định tại điểm b khoản này.

b) Đối với các loại hình tác phẩm khác không thuộc điểm a:

  • Thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau năm tác giả chết.
  • Nếu tác phẩm có nhiều đồng tác giả, thời hạn bảo hộ kết thúc vào năm thứ 50 sau năm người đồng tác giả cuối cùng qua đời.

c) Thời điểm chấm dứt bảo hộ: Thời hạn bảo hộ quy định tại điểm a và b kết thúc vào 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm hết hạn bảo hộ.  Điều này có nghĩa là, bất kỳ quyền nhân thân hay quyền tài sản nào mà tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm được hưởng sẽ không còn hiệu lực kể từ thời điểm trên, và tác phẩm sau đó sẽ chính thức trở thành tài sản công cộng, mọi người có quyền sử dụng mà không cần xin phép hay trả phí cho tác giả hoặc người thừa kế.

Việc xác định ngày chấm dứt bảo hộ đến tận giờ, ngày, tháng và năm giúp tránh các tranh chấp về quyền tác giả, đảm bảo rằng mọi bên liên quan đều biết chính xác thời điểm quyền tác giả hết hiệu lực.

3. Sau khi hết hạn bảo hộ sở hữu trí tuệ tác phẩm sẽ thuộc về ai?

Theo điều 43 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2022 quy định như sau: 

Điều 43. Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về công chúng

1. Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này và cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 34 của Luật này thì thuộc về công chúng.

2. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng quy định tại khoản 1 Điều này nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả, người biểu diễn quy định tại Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Chính phủ quy định chi tiết việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về công chúng.

Tóm lại, sau khi thời hạn bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ chấm dứt, toàn bộ tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng sẽ chính thức thuộc về công chúng, đồng nghĩa với việc mọi tổ chức, cá nhân đều được quyền tự do khai thác, sử dụng những đối tượng này cho các mục đích khác nhau; tuy nhiên, việc sử dụng đó luôn phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, đặc biệt là nghĩa vụ tôn trọng đầy đủ và không xâm phạm các quyền nhân thân bất khả xâm phạm của tác giả, người biểu diễn như quyền đứng tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, cũng như các quy định có liên quan; đồng thời, quá trình khai thác còn phải tuân theo các hướng dẫn chi tiết của Chính phủ nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích cộng đồng, việc tiếp cận tri thức – văn hóa chung của xã hội và việc giữ gìn giá trị tinh thần của những chủ thể sáng tạo ban đầu, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của môi trường sáng tạo và bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Hơn thế nữa, việc một tác phẩm hay đối tượng quyền liên quan bước vào phạm vi công cộng không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận rộng rãi cho xã hội mà còn tạo điều kiện thúc đẩy sáng tạo mới, bởi các cá nhân, tổ chức có thể kế thừa, phát triển hoặc chuyển hóa những giá trị sẵn có để hình thành nên những sản phẩm sáng tạo đa dạng hơn; tuy nhiên, quá trình này luôn đòi hỏi sự tỉnh táo và ý thức pháp lý cao để vừa tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên tri thức chung, vừa không làm sai lệch tinh thần, nội dung, danh dự hay uy tín gắn liền với tác phẩm gốc, đảm bảo rằng sự hòa nhập vào cộng đồng của tác phẩm sau khi hết hạn bảo hộ không làm mất đi dấu ấn của người sáng tạo ban đầu mà ngược lại, tiếp tục lan tỏa và được trân trọng trong đời sống xã hội.

Kết luận 

Tóm lại, khi thời hạn bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan kết thúc theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm sẽ chính thức thuộc về công chúng – trở thành một phần của kho tàng tri thức chung mà bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cũng có thể tự do sử dụng, khai thác và sáng tạo tiếp nối. Tuy nhiên, dù quyền khai thác về mặt kinh tế không còn bị hạn chế, pháp luật vẫn yêu cầu sự tôn trọng tuyệt đối đối với các quyền nhân thân của tác giả, bao gồm quyền được nêu tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn nội dung tác phẩm và các giá trị tinh thần gắn liền với nó. Điều này thể hiện sự cân bằng tinh tế giữa việc mở rộng không gian sáng tạo cho xã hội và gìn giữ dấu ấn cá nhân của người sáng tạo ban đầu. Đồng thời, sự gia nhập phạm vi công cộng của tác phẩm không những giúp tri thức lan tỏa mạnh mẽ hơn mà còn tạo động lực để các nhà sáng tạo tiếp tục cống hiến, bởi họ biết rằng tác phẩm của mình, sau một giai đoạn được bảo hộ, sẽ sống tiếp trong đời sống xã hội dưới nhiều hình thức phong phú. Chính sự chuyển giao này đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần xây dựng một môi trường sáng tạo lành mạnh, bền vững và giàu giá trị nhân văn tại Việt Nam.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.