Theo nguyên tắc áp dụng chung, sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ quốc gia nào thì được áp dụng theo pháp luật của quốc gia đó, trừ một số trường hợp đặc biệt liên quan đến quyền miễn trừ ngoại giao, quyền miễn trừ lãnh sự, hoặc theo công ước quốc tế. Vậy hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng như thế nào? Lãnh thổ Việt Nam bao gồm những vùng nào?

1. Phạm vi lãnh thổ Việt Nam bao gồm những gì?

Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn, bao gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời.

- Vùng đất bao gồm toàn bộ phần diện tích đất liền và các hải đảo.

- Vùng biển bao gồm: vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa.

Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với đất liền, nằm ở phía trong đường cơ sở, được coi như một bộ phận trên đất liền.

Lãnh hải là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia trên biển: rộng 12 hải lý, ranh giới ngoài tính bằng đường song song và cách đều với đường cơ sở về phía biển và đường phân định trên vịnh với các nước hữu quan. Ranh giới ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.

Vùng tiếp giáp lãnh hải: rộng 12 hải lý, là cùng đảm bảo cho việc thực hiện chủ quyền của một nước ven biển, Nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi trường, nhập cư.

Vùng đặc quyền kinh tế: Rộng 200 hải lý, tình từ đường cơ sở. Nhà nước và nhân dân ra có chủ quyền hoàng toàn về kinh tế những vẫn cho phép nước ngoài được đặt ống dẫn dầy, dây cáp ngầm và tự do lưu thông hàng hải và hàng không theo Luật biển.

Vùng thềm lục địa: là phần ngầm dưới đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần rìa lục địa kéo dài đến đô sâu -200m hoặc hơn nữa, Nhà nước có quyền thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tài nguyên biển.

- Vùng trời bao gồm: không gian bao trùm lên trên lãnh thổ Việt Nam, trên đất liền được xác định bằng các đường biên giới, trên biển là ranh giới bên ngoài của lãnh hải và không gian của các đảo, quần đảo.

2. Hiệu lực của Bộ luật hình sự là gì?

Hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật nói chung và của Bộ luật hình sự Viêt Nam nói riêng được hiểu là giá trị pháp lý của văn bản đó, để xác định giá trị thi hành hoặc áp dụng của văn bản, thể hiện thức bậc cao thấp của văn bản trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện phạm vi tác động hoặc pham vi điều chỉnh của văn bản về thời gian, không gian và đối tương áp dụng.

Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nước ta, Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lí cao nhất. Tiếp sau Hiến pháp có các bộ luật và luật do Quốc hội thông qua và ban hành. Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có giá trị sau Hiến pháp và luật, sau đó là các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành (nghị định, nghị quyết, thông tư,…).

Về nguyên tắc, các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, tránh tuyệt đối ban hành những văn bản vi hiến, đảm bảo tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lí của văn bản trong hệ thống pháp luật. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có giá trị hiệu lực pháp lí cao hơn.

Ví dụ 1: Bộ luật Dân sự đươc coi là đạo luật gốc của rất nhiều luật như Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Thương mại, Bộ luật Lao động,… Nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự là tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, do đó, trong các luật và Bộ luật nêu trên đều áp dụng nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận. Thông thường, nếu các bên không có sự thỏa thuận thì pháp luật mới điều chỉnh.

Ví dụ 2: Hiến pháp Việt Nam có nguyên tắc suy đoán vô tội (Không ai bị coi là có hành vi phạm tội cho đến khi có quyết định, bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật). Vì vậy, trong Bộ luật hình sự hay trong Bộ luật tố tụng hình sự đều áp dụng triệt để nguyên tắc này.

Hiệu lực pháp luật của Bộ luật hình sự được thể hiện trên các phương diện sau:

- Hiệu lực về không gian: chỉ giới hạn phạm vi lãnh thổ mà một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực;

- Hiệu lực về thời gian: chỉ khoảng thời gian mà một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lí bắt buộc thi hành.

3. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam

Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 6 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

2. Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3. Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.

Có thể thấy, Bộ luật hình sự chia việc áp dụng hiệu lực của Bộ luật hình sự lên hai nhóm đối tượng chính: Công dân Việt Nam và pháp nhân thương mại Viêt Nam; người nước ngoài và pháp nhân thương mại nước ngoài.

3.1. Hiệu lực của Bộ luật hình sự áp dụng cho công dân, pháp nhân thương mai Việt Nam phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Đối với công dân Việt Nam, pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam mà Bộ luật hình sự đã quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này. Hiệu lực về không gian này được áp dụng dựa trên cơ sở của nguyên tắc quốc tịch, công dân, pháp nhân thương mại của Việt Nam phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong đó, công dân Việt Nam được hiểu là người mang quốc tịch Việt Nam. Theo nguyên tắc quốc tịch, Bộ luật hình sự Việt Nam cũng có hiệu lực đối với pháp nhân thương mại Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Pháp nhân thương mại Việt Nam được hiểu là pháp nhân thương mại được thành lập theo pháp luật Việt Nam.

Ở đây cần chú ý: vấn đề Bộ luật hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với hành vi phạm tội được thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam và vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi phạm tội đó tại Việt Nam theo Bộ luật hình sự Việt Nam là hai vấn đề khác nhau. Bộ luật hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội do công dân Việt Nam thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng không phải tất cả các hành vi này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật hình sự Việt Nam vì việc truy cứu này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.

Ví dụ: Một du học sinh Việt Nam ở Mỹ có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác, tỷ lệ thương thật là 22%. Hành vi này vi phạm quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, hành vi này có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam. Thông thường, người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ và tại lãnh thổ Hoa Kỳ.

Khi xác định hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với hành vi phạm tội do người Việt Nam thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể gặp hai loại trường hợp khác nhau. Đó là trường hợp hành vi phạm tội xảy ra được quy định cả trong Bộ luật hình sự Việt Nam và cả trong luật hình sự của quốc gia mà hành vi phạm tội này xảy ra. Trường hợp khác là trường hợp hành vi phạm tội chỉ được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Do khoản 1 của điều luật không quy định rõ về vấn đề này nên có thể hiểu Bộ luật hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với cả hai trường hợp. Tuy nhiên, theo nguyên tắc “có lợi” thì khoản 1 của điều luật phải được giải thích theo hướng, Bộ luật hình sự Việt Nam chỉ có hiệu lực đối với trường hợp hành vi phạm tội xảy ra được quy định cả trong Bộ luật hình sự Việt Nam và cả trong luật hình sự của quốc gia mà hành vi phạm tội này xảy ra.

Đoạn thứ hai của khoản 1 xác định Bộ luật hình sự cũng có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp người thực hiện tội phạm là người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam. Quy định này phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về quy chế của người không quốc tịch (năm 1954). Trong đó, Điều 2 của Công ước quy định: “Mỗi người không quốc tịch đểu có những nghĩa vụ đổi với đất nước nơi người đó cư trú, những nghĩa vụ này đòi hỏi người đó phải tuân thủ các quy định pháp luật của nước đó cũng như những biện pháp được áp dụng để duy trì trật tự công cộng.”

3.2. Hiệu lực của Bộ luật hình sự áp dụng cho người, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam

Bên cạnh việc áp dụng hiệu lực cho người Việt Nam có hành vi phạm tội, hiệu lực của Bộ luật hình sự còn áp dụng cho người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài có hành vi phạm tội xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, ngay cả khi hành vi này được thực hiện ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

Theo nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc gia, Bộ luật hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng xâm hại lợi ích của Việt Nam, trong đó phải kể đến trước hết là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ…

Theo nguyên tắc phổ cập, Bộ luật hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng là những tội phạm được quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đây là các tội phạm quốc tế được quy định trong Chương XXVI Bộ luât hình sự Việt Nam và các tội phạm có tính quốc tế được quy định trong một số chương khác của Bộ luật hình sự Việt Nam như tội khủng bố (Điều 299); tội rửa tiền (Điều 324); tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251);….. Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội phạm này có hiệu lực đối với hành vi phạm tội được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam và người thực hiện không phải là công dân Việt Nam khi trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định tương ứng.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực hình sự, quý khách có thể liên hệ trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn thông qua tổng đài tư vấn luật hình sự: 1900.6162 hoặc đặt lịch để được tư vấn pháp luật hình sự trực tiếp tại văn phòng Công ty luật Minh Khuê. Chúng tôi sẵn sàng cử luật sư tham gia bào chữa khi bạn hoặc người thân bị cáo buộc phạm tội và đứng trước nguy cơ bị phạt tù.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê