Hiệu lực của luật hình sự là giá trị thi hành của luật hình sự đối với tội phạm nên nó phải gắn với hành vi phạm tội. Nói đến hiệu lực của luật hình sự là nói đến hiệu lực của luật đối với hành vi phạm tội xảy ra khi nào (hiệu lực về thời gian) và đối với hành vi phạm tội xảy ra ở đâu (hiệu lực về không gian).

1. Hiệu lực về thời gian của luật hình sự

Khi đã chấp nhận nguyên tắc pháp chế mà trước hết là nguyên tắc “Nullum crimen sine lege” (không có tội khi không có luật) thì vấn đề hiệu lực về thời gian phải được xác định theo nguyên tắc: Luật hình sự chỉ có hiệu lực để truy cứu TNHS đối với hành vi được thực hiện sau khi luật được ban hành và có hiệu lực thi hành. Nguyên tắc chung này được hiểu với hai nội dung sau:

- Nếu việc áp dụng luật mà không có lợi cho chủ thể bị áp dụng thì luật hình sự không có hiệu lực trở về trước. Cụ thể: Luật hình sự không có hiệu lực trở về trước trong các trường hợp sau:

+ Xác định có tội hoặc xác định tội nặng hơn;

+ Xác định TNHS nặng hơn;

+ Quy định nội dung khác không có lợi cho chủ thể bị áp dụng luật.

- Nếu việc áp dụng luật mà có lợi cho chủ thể bị áp dụng thì luật hình sự có hiệu lực trở về trước.

Ở đây có hai điểm cần chú ý:

+ Khi nói không có hay có hiệu lực trở về trước thì có thể là đối với toàn bộ các quy định hoặc chỉ đối với một hoặc một số quy định của luật hình sự. Điều này phụ thuộc vào nội dung của quy định cũng như vào thời điểm có hiệu lực thi hành của quy định trong trường hợp được bổ sung, sửa đổi.

+ Trong trường hợp giữa thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm với thời điểm tội phạm kết thúc là khoảng thời gian dài và luật hình sự có hiệu lực thi hành trong khoảng thời gian đó thì vẩn đề hiệu lực theo thời gian được giải quyết theo nguyên tắc: Thời điểm thực hiện tội phạm được tính là thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm vì như vậy mới đảm bảo được nguyên tắc “cớ lợi cho người phạm tội”.

Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như luật hình sự Việt Nam nói riêng đều xác định hiệu lực về thời gian theo nguyên tắc chung trên. Cụ thể, khoản 2 Điều 152 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:

“Không được quy định hiệu lực trở về trước đổi với các trường hợp sau đây:

a) Quy định trách nhiệm pháp lí mới đổi với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lí;

b) Quy định trách nhiệm pháp lí nặng hơn. ”

Theo đó, các BLHS Việt Nam đã tuân thủ hoàn toàn nguyên tắc trên đây khi quy định thời hiệu về thời gian.

2. Hiệu lực về không gian của luật hình sự

Hiệu lực về không gian của luật hình sự trả lời câu hỏi: Luật hình sự có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở đâu và kèm theo là câu hỏi do ai thực hiện. Giải quyết vấn đề này, ngành luật hình sự dựa trên một sổ nguyên tắc được thừa nhận chung. Đó là nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia và nguyên tắc phổ cập (universal).

Theo nguyên tắc lãnh thổ, luật hình sự của mỗi quốc gia có hiệu lực đối với tất cả các tội phạm xảy ra trên lãnh thổ của mình, không kể người thực hiện tội phạm đó là công dân của quốc gia hay người nước ngoài hay người không có quốc tịch. Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng trong trường họp công dân nước ngoài thuộc diện được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo luật quốc tế.

Theo luật quốc tế thì lãnh thổ quốc gia "... bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt hoặc tuyệt đối của một quốc gia.Với cách hiểu như vậy, lãnh thổ quốc gia chỉ là lãnh thổ tự nhiên mà không bao gồm lãnh thổ “mở rộng” thường được dùng để chỉ tàu thuyền hay tàu bay của một quốc gia khi ở ngoài lãnh thổ quốc gia. Mặc dù tàu thuyền và tàu bay không phải là lãnh thổ quốc gia nhưng luật hình sự của mỗi quốc gia vẫn có thể có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra trên tàu thuyền, tàu bay thuộc quốc gia mình khi ở ngoài lãnh thổ quốc gia và do vậy có thể coi các phương tiện này như là “lãnh thổ mở rộng”. Tuy nhiên, nguyên tắc lãnh thổ và nguyên tắc cho phép luật hình sự có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ttên các phương tiện này vẫn là hai nguyên tắc khác nhau. Nguyên tắc thứ hai thường được gọi là nguyên tắc mang cờ. Đây có thể coi là nguyên tắc bổ sung cho nguyên tắc lãnh thổ. Theo nguyên tắc mang cờ, hiệu lực về không gian của luật hình sự được xác định theo quốc gia mà tàu thuyên, tàu bay được đăng kí.

Từ nguyên tắc lãnh thổ, vấn đề hiệu lực của luật hình sự đối với tội phạm xảy ra tại vùng đặc quyền kinh tế và tại thềm lục địa cũng được đặt ra. Vùng đặc quyên kinh tế cũng như thềm lục địa tuy không thuộc lãnh thổ quốc gia nhưng theo pháp luật quốc tế, quốc gia có quyền chủ quyền đối với hai vùng này.Theo đó, các quốc gia ven biển có các đặc quyền nhất định đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các quyền này gắn liền với chủ quyền quốc gia của các quốc gia ven biển và từ đó cũng làm phát sinh quyền tài phán đối với tội phạm xảy ra tại đây. Như vậy, từ nguyên tắc lãnh thổ, các quốc gia ven biển có thể xác định hiệu lực của luật hình sự đối với tội phạm gắn liền với các đặc quyền xảy ra tại vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa của mình.

Tội phạm được coi là xảy ra trên lãnh thổ quốc gia khi địa điểm phạm tội được xác định là trên lãnh thổ quốc gia. Trong đó, địa điểm phạm tội có thể chỉ là nơi bắt đầu, nơi kết thúc của hành vi phạm tội hoặc chỉ là nơi một phần hành vi phạm tội diễn ra hoặc chỉ là nơi hậu quả xảy ra hoặc được dự kiến xảy ra. Hành vi phạm tội ở đây cũng được hiểu không chỉ là hành vi thực hiện tội phạm mà có thể là hành vi chuẩn bị phạm tội cũng như các hành vi đồng phạm như xúi giục, giúp sức. Với nguyên tắc này, có thể xảy ra trường hợp luật hình sự của các quốc gia khác nhau cùng có hiệu lực về không gian đối với tội phạm đã xảy ra.

Theo nguyên tắc quốc tịch, luật hình sự của mỗi quốc gia có hiệu lực đối với các tội phạm do công dân của mình thực hiện hoặc đối với tội phạm mà nạn nhân là công dân của mình, không kể tội phạm đó xảy ra ở đâu - trong hoặc ngoài lãnh thổ quốc gia. Như vậy, nguyên tắc quốc tịch có hai loại: Nguyên tắc quốc tịch chủ động (theo quốc tịch của người phạm tội) và nguyên tắc quốc tịch bị động (theo quốc tịch của nạn nhân). Khi xác định hiệu lực của luật hình sự theo nguyên tắc quốc tịch chủ động có hai trường hợp được đặt ra: Trường hợp công dân của một quốc gia phạm tội trong nước và trường hợp công dân của một quốc gia phạm tội ở nước ngoài. Đối với trường hợp thứ nhất, hiệu lực được xác định theo cả hai nguyên tắc là nguyên tắc lãnh thổ và nguyên tắc quốc tịch và không có vấn đề gì đặc biệt được đặt ra. Đối với trường hợp thứ hai lại có vấn đề đặc biệt được đặt ra là: Hành vi xảy ra ở nước ngoài có thể là tội phạm theo luật trong nước (theo nguyên tắc quốc tịch) cũng như theo luật nước ngoài, nơi hành vi xảy ra (theo nguyên tắc lãnh thổ) nhưng cũng có thể, hành vi xảy ra ở nước ngoài chỉ là tội phạm theo luật trong nước còn theo luật nước ngoài, nơi hành vi xảy ra thì hành vi không bị coi là tội phạm. Từ đó, đòi hỏi các quốc gia khi quy định hiệu lực theo nguyên tắc quốc tịch cần chú ý điều đặc biệt này. Khi xác định hiệu lực cùa luật hinh sự đối với tội phạm do công dân của quốc gia mình thực hiện ở nước ngoài, các quốc gia có thể khẳng định hiệu lực này không phụ thuộc vào luật của nước ngoài, nơi hành vi xảy ra nhưng cũng có thể giới hạn hiệu lực đối với những hành vi mà theo luật nước ngoài, nơi hành vi xảy ra cũng bị coi là tội phạm V.V..

Theo nguyên tắc quốc tịch thì có thể có trường hợp luật hình sự của nhiều quốc gia cùng có hiệu lực đối với tội phạm nhất định khi người phạm tội có nhiều quốc tịch.

Ở đây cũng cần chú ý: vấn đề luật hình sự của quốc gia có hiệu lực đối với tội phạm do công dân của mình thực hiện ở nước ngoài với vấn đề có thể thực hiện được việc truy cứu TNHS đối với họ hay không là hai vẩn đề khác nhau.

Các nguyên tắc trên là các nguyên tắc chủ yểu, điều chỉnh hiệu lực về không gian của luật hình sự. Ngoài ra, còn có các nguyên tắc khác.

Theo nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia, luật hình sự cùa một quốc gia sẽ có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra bên ngoài lãnh thổ và do người không phải là công dân của quốc gia mình thực hiện khi tội phạm đó đe doạ nghiêm trọng đến an ninh của quốc gia. Đây là nguyên tắc mở rộng hiệu lực về không gian của luật hình sự và các quốc gia có thể sử dụng nguyên tắc này khi quy định hiệu lực của luật hình sự.

Theo nguyên tắc phổ cập, luật hình sự của quốc gia sẽ có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra bên ngoài lãnh thổ và do người không phải là công dân của quốc gia mình thực hiện nếu tội phạm đó là tội phạm mà quốc gia có nghĩa vụ phải chống theo cam kết của quốc gia trong các điều ước quốc tế. Đó là các tội phạm quốc tế hoặc là các tội phạm có tính quốc tế. Khi được thông qua, hiệu lực thi hành của BLHS năm 2015 được xác định là ngày 01/7/2016. Ngày 29/6/2016, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 144/2016/QH13 quyết định lùi hiệu lực thi hành của BLHS năm 2015 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật này. Sau đó, hiệu lực thi hành của BLHS năm 2015 đã được xác định là ngày 01/01/2018. Đây cũng là thời điểm Luật sửa đồi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 (được ban hành năm 2017) có hiệu lực thi hành.

Nguyên tắc phổ cập là nguyên tắc đáp ứng yêu cầu của sự hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống một số tội phạm vì an ninh chung. Việc thừa nhận và cho phép hiệu lực có tính toàn cầu đó của luật hình sự là vì lợi ích của tất cả quốc gia và là cơ sở pháp lí cho việc thực hiện được cam kết quốc tế của mỗi quốc gia.

Pháp luật hình sự Việt Nam nói chung cũng như các BLHS Việt Nam nói riêng đều xác định hiệu lực về không gian trong phạm vi cho phép của các nguyên tắc chung trên

3. Hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

BLHS Việt Nam hiện hành là BLHS năm 2015. Đây là BLHS thứ ba sau các BLHS năm 1985, năm 1999. BLHS năm 2015 được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 27/11/2015 và được Chủ tịch nước công bố ngày 09/12/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/2018.

Hiệu lực của BLHS được quy định cụ thể tại các điều 5, 6 và 7 BLHS. Ngoài ra, vấn đề này còn được giải thích rõ thêm ở một số nội dung tại Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành BLHS của Quốc hội khoá XIIL Nội dung của các điều luật quy định hiệu lực của BLHS đều phù hợp với nguyên tắc chung.

3.1 Hiệu lực về thời gian của Bộ luật hình sự

Khoản 1 Điều 7 BLHS quy định: “Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điếm mà hành vi phạm tội được thực hiện. ” Với quy định này, các điều luật hình sự cũng như BLHS nói chung chỉ có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra sau khi điều luật, bộ luật có hiệu lực thi hành. Ở đây cần có sự phân biệt giữa điều luật và bộ luật vì có thể có những điều luật được bổ sung, sửa đổi sau khi BLHS đã có hiệu lực thi hành và như vậy giữa thời điểm BLHS có hiệu lực thi hành với thời điểm những điều luật được bổ sung, sửa đổi và có hiệu lực thi hành có sự khác nhau.

Khoản 1 Điều 7 BLHS là quy định có tính nguyên tắc; khoản 2 và khoản 3 của điều luật này phân biệt nhóm quy định không có lợi cho người phạm tội và nhóm quy định có lợi cho người phạm tội để xác định hiệu lực về thời gian cho từng nhóm.

Theo khoản 2 Điều 7 BLHS, những điều luật có nội dung quy định không có lợi cho người phạm tội đều không có hiệu lực trở về trước. Đó là “Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn TNHS, loại trừ TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội...” (khoản 2 Điều 7 BLHS).

Theo khoản 3 Điều 7 BLHS, những điều luật có nội dung có lợi cho người phạm tội được phép có hiệu lực trở về trước. Đó là: “Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn TNHS, loại trừ TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xoá án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội... ” (khoản 3 Điều 7 BLHS).

Nội dung quy định hiệu lực về thời gian của BLHS được trình bày trên không có sự thay đổi so với nội dung tương ứng được quy định trong các BLHS trước đây là BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999.

3.2 Hiệu lực về không gian của Bộ luật hình sự

- Khoản 1 Điều 5 BLHS quy định hiệu lực về không gian theo nguyên tắc lãnh thổ. Theo nguyên tắc này, BLHS có hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội được thực hiện“trên lãnh thổ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”.

Bổ sung cho nguyên tắc này, khoản 1 Điều 5 quy định: BLHS cũng có hiệu lực đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của nó xảy ra “trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”.

Quy định trên đây cần được hiểu cụ thể dựa trên chế độ pháp lí của từng bộ phận thuộc lãnh thổ cũng như các bộ phận không thuộc lãnh thổ nhưng thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam. Theo Điều 1 Hiến pháp Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam "... bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biến và vùng trời”. Trong đó, vùng biển được hiểu gồm nội thuỷ và lãnh hải (Luật biển Việt Nam sử dụng từ tàu thuyền mà không sừ dụng từ tàu biển. Cách sử dụng trong Luật biển Việt Nam có thể phù hợp hơn và về nội thủy và lãnh hải, xem các điều 9, 10 Luật biển Việt Nam). Do lãnh hải có chế độ pháp lí tương đối đặc biệt so với các bộ phận hợp thành khác nên khi xác định hiệu lực về không gian đối với tội phạm xảy ra trên lãnh hải cần chú ý Điều 30 Luật biển Việt Nam cũng như Điều 27 Công ước của Liên hợp quốc về luật biển. Tương tự như vậy, khi xác định hiệu lực về không gian đối với tội phạm xảy ra tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam (về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, xem các điều 15, 17 Luật biển Việt Nam; về vấn đề lãnh thổ Việt Nam và về các đối tượng được hường quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự ) cần chú ý các điều 16, 18 Luật biển Việt Nam và các điều 56,77 Công ước của Liên họp quốc về luật biển.

Bổ sung cho quy định về hiệu lực về không gian tại khoản 1 Điều 5 BLHS, khoản 2 Điều 5 BLHS quy định phạm vi những người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam không bị xử lí theo BLHS Việt Nam. Đó là những người nước ngoài "... thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế...”.

Quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự gồm nhiều quyền khác nhau. Khoản 2 của điều luật chỉ nói đến quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự nói chung nhưng cần phải hiểu đối tượng được nêu tại khoản này chỉ là những người được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự. Hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về vấn đề này là Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 23/8/1993.(1)

- Khoản 1 Điều 6 BLHS quy định hiệu lực về không gian theo nguyên tắc quốc tịch chủ động. Cụ thể: BLHS có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường họp người thực hiện tội phạm đó là công dân Việt Nam hoặc là người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam. Theo đó, BLHS cũng có hiệu lực đối với pháp nhân thương mại Việt Nam khi các điều kiện phải chịu TNHS của pháp nhân thương mại thoả mãn.(1)

- Khoản 2 Điều 6 quy định hiệu lực về không gian theo nguyên tắc quốc tịch bị động, nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia và nguyên tắc phổ cập. Theo đó, BLHS có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp tội phạm đó “... xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên”. So với các BLHS năm 1985 và 1999, BLHS năm 2015 mở rộng phạm vi hiệu lực về không gian. Hai nguyên tắc được sử dụng để mở rộng phạm vi hiệu lực về không gian là nguyên tắc quốc tịch bị động và nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia.

- Khoản 3 Điều 6 quy định hiệu lực về không gian theo nguyên tắc phổ cập trong trường hợp hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra ttên tàu bay, tàu biển. Theo đó, BLHS có hiệu lực đối với "... hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam... trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên có quy định”.

Như vậy, việc xác định hiệu lực về không gian của BLHS theo nguyên tắc phổ cập tại khoản 2 và khoản 3 Điều 6 đều liên quan đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Khi xác định cần chú ý không chỉ nội dung cụ thể của điều ước về tội phạm và quyền tài phán mà còn phải chú ý phạm vi tham gia của Việt Nam. Một số điều ước quốc tế quy định tội phạm quốc tế hoặc tội phạm cổ tính quốc tế mà Việt Nam là thành viên là: Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng; Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người...

4. Cấu tạo của Bộ luật hình sự năm 2015

BLHS gồm Phần thứ nhất - Những quy định chung (sau đây được gọi là Phần chung), Phần thứ hai - Các tội phạm (sau đây được gọi là Phần các tội phạm) và Phần thứ ba - Điều khoản thi hành. Trong các BLHS trước đây không có Phần thứ ba (Điều khoản thi hành) nhưng có Lời nói đầu xác định chức năng của ngành luật hình sự cũng như của BLHS, trong đó đặc biệt nhấn mạnh chức năng răn đe, giáo dục. Lời nói đầu của BLHS cũng xác định ưách nhiệm thi hành Bộ luật thuộc về tất cả các cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân. Khị quy định tội phạm, luật hình sự cố thể đặt tên tội (tội danh) và mô tả tội đó nhưng cũng có thể chi mô tả mà không đặt tên tội.

Phần thứ nhất và Phần thứ hai là nội dung của Bộ luật, được kết cấu theo các chương. Trong đó, Phần thứ nhất có 12 chương và Phần thứ hai có 14 chương.

Phần thứ nhất của BLHS bao gồm các điều luật quy định những vấn đề chung về Bộ luật, về tội phạm, về TNHS, về hình phạt và biện pháp hình sự phi hình phạt. Phần thứ hai bao gồm các điều luật quy định về các tội phạm cụ thể và các khung hình phạt cụ thể có thể áp dụng đối với các tội phạm đó. Các tội phạm cụ thể được chia thành 14 nhóm khác nhau và được quy định ttong 14 chương. Trong 14 chương của Phần các tội phạm có 11 chương có trật tự kết cấu là chương - điều - khoản, 3 chương có trật tự kết cấu là chương - mục - điều - khoản (các chương 18,21 và 23). Trong tất cả các điều của 14 chương Phần các tội phạm chỉ có 4 điều (các điều 122, 352, 367 và 392) là các điều quy định vấn đề chung của nhóm tội, còn lại là các điều quy định về từng tội phạm cụ thể và các khung hình phạt có thể áp dụng đối với các tội cụ thể.

Mỗi điều luật quy định về tội phạm cụ thể đều gắn với tên của một tội phạm cụ thể (tội danh). Thông thường mỗi điều luật gắn với một tội danh nhưng cá biệt có thể gắn với nhiều tội danh. Ví dụ: Điều 354 gắn với tội danh là tội nhận hối lộ; Điều 361 gắn với hai tội danh là tội cố ý làm lộ bí mật công tác và tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác v.v..(1) Mỗi điều luật Phần các tội phạm, xét về nội dung có hai phần là phần mô tả tội phạm và phần xác định hình phạt. Phần mô tả tội phạm thường được gọi là phần quy định và phần xác định hình phạt thường được gọi là phần chế tài. Xét về hình thức cấu trúc, mỗi điều luật gồm các khoản khác nhau.

Phần quy định là phần của điều luật mô tả các dấu hiệu pháp lí của tội phạm mà điều luật quy định. Ví dụ: Điều 168 quy định tội cướp tài sản, trong đó mô tả tội phạm này là: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chổng cự được nhằm chiếm đoạt tài sản... ”.

Yêu càu đặt ra cho phần quy định là: Nội dung mô tả phải cho phép nhận biết được tội phạm, đủ để phân biệt tội phạm được quy định với các tội phạm khác và với trường hợp chưa phải là tội phạm mà chỉ là vi phạm. Ví dụ: Nội dung mô tả của phần quy định tại Điều 175 BLHS phải cho phép nhận biết tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, phân biệt tội phạm này với các tội phạm khác như tộỉ tham ô tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như cho phép phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm tài sản chỉ là vi phạm hành chính. Cụ thể: Trong phần quy định, điều luật này đã mô tả rõ các dấu hiệu của tội phạm để cho phép nhận biết và phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các tội phậm khác. Đó là các dấu hiệu: “a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sàn của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điểu kiện, khả năng nhưng cổ tình không trả; (hoặc) b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. ” Đồng thời trong phần quy định, điều luật cũng mô tả các dấu hiệu để phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ là vi phạm: “có giá trị từ bốn triệu đồng (trở lên) hoặc dưới bổn triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều..., chưa được xoá án tích mà còn vi phạm hoặc...”.

Về nguyên tắc, phần quy định của tất cả các điều luật đều phải được thể hiện là sự mô tả tội phạm. Tuy nhiên, trong BLHS vẫn còn có điều luật mà phần quy định chỉ nhắc lại tội danh. Ví dụ: Quy định tại Điều 173 là quy định không mô tả trộm cắp tài sản là gì mà chỉ nhắc lại tội danh ữộm cắp tài sản và quy định dấu hiệu phân biệt tội trộm cắp với hành vi trộm cắp là vi phạm.

Phần chế tài là phần xác định khung hình phạt có thể áp dụng đối với người đã phạm tội được mô tả ở phần quy định. Trong đó khung hình phạt được hiểu là giới hạn giữa mức nhẹ nhất và mức nặng nhất của hình phạt có thể áp dụng đối với người phạm tội. Trong giới hạn đó có thể là có các loại hình phạt khác nhau với mức thấp nhất và cao nhất. Ví dụ: Điều 140 có chế tài ở khoản 1 là: "... cải tạo không giam giữ đển 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm”. Khung hình phạt này có 2 loại hình phạt và đều có mức thấp nhất cùng mức cao nhất (6 tháng(l) đến 3 năm; 3 tháng đến 2 năm). Hầu hết các điều luật đều quy định từ 2 khung hình phạt ttở lên, trong đó có 1 khung cho trường hợp bình thường, các khung còn lại là cho trường hợp tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS.

(1). Hình phạt cải tạo không giam giữ có mức thấp nhất là 6 tháng nên khi Bộ luật quy định: Đen 3 năm thì được hiểu ià từ 6 tháng đến 3 năm.

Xét về hình thức cấu trúc, hầu hết các điều luật trong Phần thứ hai đều có từ 2 khoản trở lên. số điều luật có 1 khoản chỉ là cá biệt như Điều 181, Điều 183 V.V.. về nguyên tắc, khoản 1 của điều luật mô tả tội phạm được quy định, còn khoản 2 và các khoản tiếp theo (nếu có) mô tả các trường hợp tăng nặng (hoặc giảm nhẹ) TNHS của tội phạm đó.

5. Giải thích Bộ luật hình sự là gì ?

“Giải thích pháp luật là làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của quy phạm pháp luật; đảm bảo cho pháp luật được nhận thức và thực hiện đúng đan, thong nhất”. Căn cứ vào chủ thể và hiệu lực pháp lí của giải thích mà việc giải thích luật được phân biệt thành giải thích chính thức và giải thích không chính thức. Trong đó, giải thích chính thức là giải thích có hiệu lực pháp lí bắt buộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải thích pháp luật thực hiện; còn giải thích không chính thức là giải thích chỉ có giả trị tham khảo do cá nhân hoặc tổ chức bất kì thực hiện. Khi thực hiện việc giải thích, các chủ thể giải thích có thể sử dụng các phương pháp khác nhau.

Nội dung, yêu cầu, phương pháp cũng như cách phân loại giải thích pháp luật (được nêu tóm tắt trên) có giá trị hoàn toàn đối với giải thích BLHS. Theo đó, có một số cụ thể hoá về giải thích BLHS như sau:

- Theo Điều 159 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì giải thích BLHS thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Giải thích BLHS của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành dưới hình thức nghị quyết (Điều 160 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật).

- Theo Điều 22 Luật tổ chức toà án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ và quyền hạn “... ban hành nghị quyết hướng dẫn các toà án áp dụng thống nhất pháp luật... ”. Nội dung này phù hợp với Điều 21 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể, Điều 21 quy định:

“Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giâm đốc việc xét xử”.

Như vậy, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ hướng dẫn việc áp dụng thống nhất BLHS. Khi “hướng dẫn” áp dụng BLHS như vậy, Toà án nhân dân tối cao đã thực hiện việc giải thích các quy phạm pháp luật hình sự của BLHS. Những hướng dẫn, giải thích này có thể đựợc coi là các giải thích pháp luật có tính quy phạm.

- Giải thích không chính thức BLHS là các giải thích của cá nhân hoặc tổ chức không có thẩm quyền giải thích chính thức và có thể công bố dưới dạng các công trình nghiên cứu như các bình luận khoa học BLHS, các giải thích nội dung điều luật của BLHS trong các giáo trình, các bài báo, các luận án, luận văn V.V.. Những giải thích này tuy không có hiệu lực pháp lí nhưng có thể giúp việc hiểu rõ hơn nội dung của các quy phạm pháp luật ttong BLHS, góp phần làm phong phú thêm tri thức về BLHS nói riêng cũng như khoa học luật hình sự nói chung.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162, để được luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê (biên tập)