Hiệu lực theo không gian của Bộ luật Hình sự là phạm vi lãnh thổ mà các hành vi phạm tội xảy ra trong phạm vi đó chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Hình sự.
- Đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.
Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Bộ luật Hình sự Việt Nam được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có nghĩa là, bất kỳ một tội phạm nào được thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đều được đưa ra xét xử tại Tòa án nưóc Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Theo Điều 1 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định: “Nưóc Cộng hòa XHCN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, hải đảo; vùng biển và vùng tròi”. Lãnh thổ giới hạn bôi biên giới quốc gia bao gồm biên giới quốc gia trên đất liền, biên giới quốc trên biển, biên giới lòng đất, biên giới trên không. Ngoài ra, phù hợp với luật pháp quốc tế, lãnh thổ Việt Nam được hiểu theo góc độ chủ quyền quốc gia bao gồm các loại tàu của Việt Nam trên biển, các loại máy bay của Việt Nam đang hoạt động trên vùng tròi hoặc đang ở nước ngoài. Một tội phạm được coi là thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam có thể là:
+ Các hành vi phạm tội đã bắt đầu và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Các hành vi phạm tội đã bắt đầu ở nước khác nhưng kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Các hành vi phạm tội đã bắt đầu ở Việt Nam nhưng kết thục ở nước ngoài.
Như vậy, bất kỳ người nào hoặc pháp nhân thương mại nào thực hiện một giai đoạn của tội phạm trên lãnh thổ Việt Nam đều được xem xét trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự Việt Nam. Tất nhiên việc xem xét trách nhiệm hình sự của một con người cụ thể hoặc pháp nhân thương mại cụ thể phải thỏa mãn điều kiện chủ thể của tội phạm.
Riêng đối với người nước ngoài được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc lãnh sự được quy định tại Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ liưốc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ưổc quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ưốc quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”.
Những người được hưởng đặc quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự là những người trong các đoàn đại biểu của chính phủ các nưóc sang thăm Việt Nam, những người đứng đầu các cơ quan ngoại giao như Đại sứ; Tham tán kinh tế, văn hóa; Bí thư, Tùy viên... sứ quán. Ngoài ra, theo thông lệ quốc tế, những người là vỢ, chồng, con... của những người kể trên cũng được hưỏng quyền nói trên.
- Đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam
Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.
Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam”.
Như vậy, đối với một hành vi phạm tội xảy ra ở nước ngoài, để có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật này, cần có hai điều kiện:
+ Là công dân Việt Nam, pháp nhân thương mại Việt Nam hoặc là người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam.
+ Tội phạm được thực hiện ở nước ngoài phải được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nưóc ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của đỉều ưổc quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
Khoản 3 Điều 6 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giói hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định”.