1. Hiệu lực thi hành quyết định cưỡng chế thuế

Theo Luật Quản lý thuế năm 2019 số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 06 năm 2019; Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế. Quy định cụ thể như sau:

Theo khoản 3 Điều 127 Luật Quản lý thuế: Quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày ban hành quyết định; trường hợp cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thì có hiệu lực thi hành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban hành quyết định.

 

2. Thời hạn ban hành, thi hành quyết định cưỡng chế hành chính là bao lâu?

Căn cứ theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành thì chỉ có quy định thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 7 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm, thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hàn chính là 1 năm, kể từ ngày ra quyết định, còn đối với quyết định cưỡng chế thì Luật và các văn bản chưa đề cập đã gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan áp dụng quy định.

Theo Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 2 Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì: Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng trong các trường hợp cá nhân, tổ chức không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Luật cũng quy định cụ thể trách nhiệm của người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế, cơ quan chủ trì, phối hợp thực hiện cưỡng chế. Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 166/2013/NĐ-CP không quy định rõ thời hạn ban hành quyết định cưỡng chế là bao nhiêu ngày kể từ ngày hết thời hạn chấp hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, đã gây nhiều cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan trong quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế.

 

2.1. Thời hạn ban hành quyết định cưỡng chế

Đa số ý kiến cho rằng, việc ban hành quyết định cưỡng chế phải được thực hiện ngay sau khi hết thời hạn quy định mà người vi phạm vẫn không tự nguyện thi hành tối đa chỉ trong 1 năm, có như vậy mới đảm bảo tính kịp thời, tính răn đe và giảm bớt hậu quả có thể xảy ra. Quan điểm này viện dẫn Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính, theo đó thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 1 năm, quá thời hạn đó thì không thi hành nữa. Do đó, nếu quyết định xử phạt đã không thi hành thì đương nhiên sẽ không ban hành quyết định cưỡng chế được, nên có thể hiểu chỉ ban hành quyết định cưỡng chế đối với trường hợp phạt tiền là trong 1 năm kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt.

Đối với trường hợp có hình thức xử phạt bổ sung, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì thời hạn ban hành quyết định cưỡng chế có thể kéo dài hơn 1 năm. Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng do Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn không có quy định rõ ràng thời gian nên việc ban hành quyết định cưỡng chế có thể bất cứ lúc nào trên thực tế có những quyết định xử phạt đã ban hành hai, ba năm người có thẩm quyền mới ban hành quyết định cưỡng chế.

 

2.2. Hiệu lực thi hành của quyết định cưỡng chế

Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 166/2013/NĐ-CP thì thời hạn tối thiểu để thi hành quyết định cưỡng chế là 15 ngày kể từ ngày người vi phạm nhận được quyết định cưỡng chế, còn thời hạn tối đa thì Luật và Nghị định 166 không có quy định về thời hạn tối đa. Như vậy sẽ khó tránh khỏi sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật.

Thời hạn cưỡng chế tối đa bao lâu là phù hợp: 

Căn cứ theo Nghị định 166/2013/NĐ-CP về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính chỉ quy định thời hạn tối thiểu là 15 ngày, do đó, quá trình tham mưu ban hành quyết định cưỡng chế cần lưu ý: Đối với những hành vi vi phạm có thể cưỡng chế được ngay thì thời gian càng ngắn càng tối nhưng tối thiểu phải là 15 ngày, kể từ ngày cá nhân/tổ chức vi phạm nhận được quyết định cưỡng chế. Đối với những trường hợp vi phạm phức tạp như trên trong lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực đất đau cần phải có phương án tháo dỡ/phá dỡ tài sản nên thời gian cưỡng chế nên kéo dài khoảng 30 ngày hoặc dài hơn để cơ quan có thẩm quyền xây dựng kế hoạch cưỡng chế, phương án tháo dỡ đảm bảo an toàn. 

Để cho việc hiểu và áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thống nhất, các cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn vụ thể thời hạn ban hành quyết định cưỡng chế và nên giới hạn thi hành quyết định cưỡng chế là 1 năm.

 

3. Xử lý quyết định vưỡng chế xử phạt vi phạm hành chính hết hiệu lực

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì trong trường hợp cá nhân, tổ chức không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp buộc khắc phục hậu quả thì người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế để tổ chức thực hiện thu tiền phạt, khắc phục hậu quả.

Thời hạn thi hành quyết định cưỡng chế theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 166/2013/NĐ-CP của Chính phủ về cưỡng chế theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 166/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì thời hạn thi hành quyết định cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 15 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.

Thực tế trong quyết định cưỡng chế thì cơ quan có thẩm quyền thường ghi thời gian khá dài (60, 90 ngày...) để có thời gian vận động, chuẩn bị điều kiện tổ chức cưỡng chế, nhưng cũng có trường hợp quá thời hạn tổ chức cưỡng chế mà cơ quan có thẩm quyền vẫn không tổ chức cưỡng chế dẫn đến khó cưỡng chế vì có nhiều quan điểm khác nhau.

Một số ý kiến cho rằng, do trong quyết định cưỡng chế đã ghi rõ thời gian tổ chức cưỡng chế nên nếu hết thời hạn đó mà không tổ chức cưỡng chế thì không tổ chức cưỡng chế nữa mà quy trách nhiệm, xử lý cơ quan, tổ chức không thực hiện việc tổ chức cưỡng chế.

Tuy nhiên quan điểm trên còn chưa phù hợp, do thời gian tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong Quyết định cưỡng chế xử phạt vi phạm hành chính hết hiệu lực nhưng Quyết định cưỡng chế vẫn còn hiệu lực thi hành, chưa bị thay thế, hủy bỏ bởi một văn bản khác, do đó vẫn phải tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế đó. Tuy nhiên, do thời gian tổ chức cưỡng chế trong quyết định đã nên cần phải sửa đổi lại thời gian tổ chức cưỡng chế trong quyết định cưỡng chế lại cho phù hợp. Thực hiện việc này cần vận dụng Điều 6a Nghị định 81/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 97/2017/NĐ-CP để ban hành quyết định, sửa đổi, bổ sung quyết định cưỡng chế.

Thời gian tổ chức cưỡng chế trong quyết định cưỡng chế đã hết nên không thể tổ chức cưỡng chế nhưng các hậu quả do hành vi đó gây ra vẫn phải khắc phục mà vẫn còn có thời hạn để khắc phục. Cụ thể theo khoản 1 Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì: Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có hình thức cử phạt tịch thu tang vật, trừ trường hợp quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Như vậy, mặc dù thời gian thực hiện các biện pháp cưỡng chế hết hiệu lực nhưng quyết định xử phạt vi phạm hành chính phần liên quan đến khắc phục hậu quả thì vẫn có hiệu lực và cơ quan có thẩm quyền phải tiếp tục tổ chức thực hiện để khắc phục hậu quả. Do đó, trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền cần tiếp tục ban hành quyết định cưỡng chế mới để tiếp tục cưỡng chế biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra.

Bên cạnh các căn cứ nêu trên thì mới đây theo dự thảo lần 5 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi thì Điều 88 Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung như sau: Thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế được tính kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế cho đến thời điểm chấm dứt hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật này; quá thời hạn này thì không thi hành quyết định cưỡng chế đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải cưỡng chế tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác, Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!