Hành vi sản xuất trái phép chất ma túy về bản chất là việc chủ động tạo ra một chất độc hại, gây nghiện, có sức tàn phá nghiêm trọng mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này xâm phạm trực tiếp và nghiêm trọng đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam về các chất ma túy và tiền chất, vốn chỉ cho phép một số cơ quan chuyên trách được sản xuất để phục vụ các mục đích hợp pháp như y tế, nghiên cứu khoa học và công nghiệp. Hành vi được coi là "trái phép" khi được thực hiện mà không có giấy phép, hoặc có giấy phép nhưng lại vi phạm nghiêm trọng các nội dung được ghi nhận trong đó, biến hoạt động này thành bất hợp pháp.

Hoạt động sản xuất trái phép chất ma túy là một mắt xích cốt lõi trong chuỗi cung ứng toàn cầu, tạo ra sản phẩm để nuôi dưỡng và mở rộng thị trường bất hợp pháp. Tại Việt Nam, với vị trí địa lý thuận lợi và chính sách mở cửa, tội phạm này diễn biến ngày càng phức tạp, không chỉ gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế và sức khỏe con người, mà còn là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm khác.

Vậy, Ma tuý là gì? Sản xuất trái phép chất ma tuý được hiểu thế nào?

Theo định nghĩa của Tổ chức Liên Hợp Quốc ma tuý được hiểu là "Các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng."

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): Ma tuý theo nghĩa rộng nhất là "Mọi thức thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp khác với tất cả những cái được đòi hỏi, để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật".

Từ đó, có thể hiểu ma tuý là chất kích thích thần kinh mang cảm giác như giảm đau, hưng phấn, dễ chịu, buồn ngủ mà nếu dùng nhiều lần sẽ phải sử dụng lại chất này nếu không cơ thể sẽ cảm thấy rất khó chịu và ma tuý còn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ người dùng. Có thể phân loại ma tuý thành các dạng như sau:

  • Ma tuý tự nhiên: Đây là các chất ma tuý có sẵn trong tự nhiên, là alcaloid của một số thực vật như cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cần sa (cây gai dầu), cây coca (cocain).
  • Ma tuý bán tổng hợp: Là các chất ma tuý được tổng hợp một phần từ một số loại ma tuý có sẵn trong tự nhiên, có tác dụng mạnh hơn chất ma tuý ban đầu. Ví dụ: Morphin, Heroin.
  • Ma tuý tổng hợp: Là nhóm các chất ma tuý không có trong tự nhiên. Ma tuý tổng hợp được tổng hợp nên từ các loại hoá chất (các hoá chất này được tổng hợp nên từ các loại hoá chát (các hoá chất này được gọi là tiền chất). Ví dụ: Amphetamin, MDMA, ecstasy, ma tuý đá,...

Tại Điều 2 Luật Phòng, chồng ma tuý năm 2021 đã quy định:

  1. Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành.
  2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
  3. Chất hướng thần là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
  4. Tiền chất là hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong danh mục tiền chất do Chính phủ ban hành.

 Như vậy, phạm vi khái niệm chất ma tuý bao hàm cả chất hướng thần và chất gây nghiện.

Còn khái niệm sản xuất trái phép chất ma tuý là làm ra chất ma tuý là việc chế biến, điều chế, tinh chế, tinh luyện... bằng thủ công hoặc có áp dụng khoa học công nghệ từ cây có chứa chất ma tuý mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền hoặc không đúng với nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép.

Đối với các hành vi nhằm tạo thuận lợi cho việc sử dụng chất ma tuý đã có sẵn như pha chế thuốc phiện thành dung dịch để tiêm chích, nghiên heroin từ bánh thành bột để hít,... thì không coi là hành vi sản xuất trái phép chất ma tuý.

Điều 248 được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và được Bổ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 sửa đổi. Đến ngày 1/7/2025, Bộ Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 chính thức có hiệu lực đã sửa đổi toàn bộ điều 248 (tại điểm 18 Điều 1) với nội dung được quy định như sau:

“Điều 248. Tội sản xuất trái phép chất ma túy

1. Người nào sản xuất trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

e) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 200 mililít;

i) Tái phạm nguy hiểm;

k) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm h khoản này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

d) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

đ) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 200 mililít đến dưới 750 mililít;

e) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm đ khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 30 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 100 gam đến dưới 03 kilôgam;

c) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 300 gam đến dưới 09 kilôgam;

d) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 22 lít;

đ) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 30 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 03 kilôgam trở lên;

c) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 09 kilôgam trở lên;

d) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 22 lít trở lên;

đ) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản này.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, tại thời điểm hiện tại sẽ áp dụng Điều 248 tội sản xuất trái phép chất ma tuý theo Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 để định tội danh.

 

1. Các yếu tố cấu thành tội sản xuất trái phép chất ma tuý

Để xác định một cá nhân phạm Tội sản xuất trái phép chất ma túy, cần phải phân tích đầy đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm.

1.1. Khách thể của tội phạm

  • Khách thể trực tiếp: Tội phạm này xâm hại trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước Việt Nam đối với các chất ma túy, tiền chất, và cây có chứa chất ma túy. Chế độ này được thiết lập nhằm kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, lưu thông các chất này, đảm bảo chúng chỉ được sử dụng cho mục đích hợp pháp.  
  • Khách thể gián tiếp: Tội phạm còn xâm hại đến trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng và sự phát triển của thế hệ tương lai.

1.2. Mặt khách quan

Hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội danh này là "sản xuất trái phép chất ma túy" dưới bất kỳ hình thức nào. Hành vi này bao gồm việc làm ra chất ma túy bằng thủ công hoặc áp dụng khoa học công nghệ, từ các loại cây có chứa chất ma túy, từ tiền chất, hóa chất, hoặc từ một chất ma túy khác mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền. Có ba phương thức sản xuất chính được ghi nhận trong thực tiễn:  

Thu hái và chiết xuất: Lấy sản phẩm từ các loại cây có chứa chất ma túy để chiết xuất thành chất ma túy, ví dụ như nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, hay cao côca.  

  • Điều chế: Thực hiện các phản ứng hóa học để tạo ra chất ma túy có nồng độ cao hơn, ví dụ như chuyển hóa nhựa thuốc phiện thành morphin, morphin thành heroine, hoặc từ tiền chất để tổng hợp các loại ma túy tổng hợp như Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA.  
  • Pha chế: Trộn các chất khác nhau để tạo ra một chất ma túy mới ở thể rắn hoặc thể lỏng. Cần lưu ý, hành vi pha chế để tạo ra một chất ma túy mới cấu thành tội sản xuất. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần là hành vi hòa tan chất ma túy dạng rắn vào nước để chuẩn bị tiêm chích, thì hành vi này không được coi là sản xuất ma túy. 
  • Hậu quả và Mối quan hệ nhân quả: Tội sản xuất trái phép chất ma túy là tội phạm có cấu thành hình thức. Điều này có nghĩa là tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm hành vi sản xuất đã hoàn thành, tức là đã tạo ra được sản phẩm là chất ma túy, bất kể khối lượng là bao nhiêu. Việc luật pháp không quy định khối lượng tối thiểu để định tội phản ánh quan điểm rằng hành vi tạo ra một chất nguy hiểm đã tự nó là đủ để cấu thành tội phạm, bất kể số lượng. Nguy cơ tiềm ẩn đối với xã hội đã xuất hiện. Trong trường hợp này, khối lượng ma túy được sản xuất không còn là yếu tố định tội mà trở thành một tình tiết định khung hình phạt, giúp áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ nguy hiểm cụ thể của hành vi.  

Ví dụ minh họa: Bản án số 40/2022/HS-ST về tội sản xuất trái phép chất ma túy đã tuyên phạt bị cáo Thào Thị C 26 tháng tù. Trong vụ án này, bị cáo chỉ thu hái nhựa thuốc phiện với khối lượng 8,33 gam để làm thuốc chữa bệnh. Dù mục đích không phải để mua bán và khối lượng rất nhỏ, hành vi của bị cáo vẫn bị xác định là sản xuất trái phép và phải chịu trách nhiệm hình sự, chứng minh rằng chỉ cần hành vi đã hoàn thành, tội danh sẽ được xác lập.  

1.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự. Căn cứ theo khoản 1 Điều 248 BLHS, chủ thể phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Tuy nhiên, đối với các trường hợp phạm tội thuộc khoản 2, 3 và 4 của điều luật, chủ thể có thể là người từ đủ 14 tuổi trở lên.  

1.4. Mặt chủ quan

Hình thức lỗi: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi sản xuất trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó.  

Mục đích: Mục đích phạm tội phổ biến là vì mục đích thương mại, thu lợi bất chính. Tuy nhiên, như đã phân tích, mục đích cũng có thể là để sử dụng cá nhân. Mục đích không phải là yếu tố cấu thành tội phạm mà chỉ có ý nghĩa trong việc xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi.   

 

2. Khung hình phạt tội sản xuất trái phép chất ma túy

Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 số 86/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Những thay đổi này nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm ma túy, với điểm nhấn là việc tăng mức hình phạt đối với một số tội danh, trong đó có tội sản xuất trái phép chất ma túy. Điểm mới của Luật này tiếp tục khẳng định quan điểm xử lý nghiêm khắc đối với hành vi sản xuất và mua bán ma túy, vốn được coi là gốc rễ của vấn đề, trong khi lại bãi bỏ hình phạt tử hình đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Cụ thể, các khung hình phạt cho tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248 BLHS) theo Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 có một số điều chỉnh đáng chú ý, với việc nâng mức phạt tù và có thể bổ sung thêm một khoản để tách khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình.  

2.1 Các khung hình phạt áp dụng với tội danh

Dưới đây là phân tích chi tiết các khung hình phạt của Tội sản xuất trái phép chất ma túy:

Khung 1: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khung hình phạt này áp dụng cho hành vi sản xuất trái phép chất ma túy ở mức cơ bản, không thuộc các tình tiết tăng nặng tại các khoản sau.  

Khung 2: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Áp dụng khi phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng như:  

  • Có tổ chức.  
  • Phạm tội từ 02 lần trở lên.  
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.  
  • Sản xuất nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam.  
  • Sản xuất Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.  
  • Tái phạm nguy hiểm.  

Khung 3: Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm. Áp dụng khi phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng sau:  

  • Có tính chất chuyên nghiệp.  
  • Sản xuất nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam.  
  • Sản xuất Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam.  

Khung 4: Phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Áp dụng cho các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, cụ thể: 

  • Sản xuất nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 05 kilôgam trở lên.  
  • Sản xuất Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 100 gam trở lên.  
  • Sản xuất các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên.  
  • Sản xuất các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên.  

Ngoài các khung hình phạt chính trên, người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung, bao gồm phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản.

2.2 Tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ

Các tình tiết này được quy định cụ thể tại các khoản 2, 3, và 4 của Điều 248, bao gồm:

  • Về tính chất hành vi: Có tổ chức; Phạm tội từ 02 lần trở lên; Có tính chất chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Tái phạm nguy hiểm.  
  • Về khối lượng ma túy: Điều luật quy định các mốc khối lượng cụ thể cho từng loại ma túy (nhựa thuốc phiện, Heroine, Methamphetamine, v.v.), tương ứng với từng khung hình phạt tăng nặng.  
  • Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội có thể được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, trên thực tế, các tội phạm về ma túy thường rất khó được áp dụng các tình tiết như "phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng" do khung hình phạt của các tội danh này thường rất cao. Do đó, "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" trở thành một trong những tình tiết giảm nhẹ phổ biến nhất và có ý nghĩa quan trọng trong việc cá thể hóa hình phạt. Việc này tạo ra một cơ chế khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan điều tra, tố tụng, giúp làm rõ các đường dây tội phạm phức tạp.

 

3. Giám định hàm lượng chất ma tuý

Trong các vụ án ma túy, việc trưng cầu giám định là bắt buộc để xác định chính xác chất, loại, khối lượng, nồng độ hay hàm lượng của chất ma túy. Kết quả giám định là một trong những chứng cứ quan trọng nhất, là cơ sở để cơ quan tố tụng định tội danh và quyết định khung hình phạt.  

Giám định viên sẽ thực hiện các xét nghiệm để xác định thành phần, cấu trúc hóa học của vật chứng. Đặc biệt, bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng thực tế của chất ma túy trong các trường hợp phức tạp, ví dụ như chất rắn đã được hòa thành dung dịch, chất lỏng đã được pha loãng, hoặc xái thuốc phiện. Trọng lượng của chất ma túy được tính bằng công thức: Trọng lượng mẫu nhân với Hàm lượng (đối với chất rắn) hoặc Thể tích mẫu nhân với Nồng độ (đối với chất lỏng).  

Một trong những vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn là mâu thuẫn giữa yêu cầu pháp lý về giám định và điều kiện thực tế. Thời hạn tạm giữ theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 rất ngắn (không quá 03 ngày, có thể gia hạn hai lần, mỗi lần không quá 03 ngày) , trong khi việc giám định chất ma túy, đặc biệt là các loại ma túy phức tạp, lại đòi hỏi thời gian dài và các thiết bị hiện đại. Điều này gây áp lực lớn cho cơ quan điều tra và tiềm ẩn nguy cơ vi phạm thời hạn tố tụng. Ngoài ra, sự thiếu hụt trang thiết bị giám định hiện đại tại nhiều địa phương cũng là một rào cản, khiến việc xác định các chất ma túy mới trở nên khó khăn, thiếu thống nhất.  

Ngoài kết quả giám định, các cơ quan tố tụng không được sử dụng lời nhận tội của bị can làm chứng cứ duy nhất để buộc tội. Cần phải thu thập các chứng cứ khác như vật chứng (ma túy, dụng cụ, phương tiện sản xuất), tài liệu liên quan, và lời khai của người làm chứng để củng cố hồ sơ vụ án.  

3.1. Hướng dẫn chi tiết về định lượng ma túy

Việc xác định khối lượng ma túy để định tội và áp dụng khung hình phạt là một vấn đề kỹ thuật phức tạp, đặc biệt khi tang vật thu giữ là hỗn hợp của nhiều chất ma túy khác nhau. Để giải quyết thách thức này, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 19/2018/NĐ-CP, quy định chi tiết về cách tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy. Nghị định này cung cấp một quy trình pháp lý và khoa học để các cơ quan tiến hành tố tụng có thể xác định chính xác khối lượng tang vật, đảm bảo tính khách quan và thống nhất trong xét xử.  

Một khía cạnh khác của tính phức tạp là việc quản lý các tiền chất và hóa chất. Tội phạm ma túy tổng hợp liên tục thay đổi công thức và sử dụng các hóa chất mới để lẩn tránh sự kiểm soát. Để đối phó, Nghị định 57/2022/NĐ-CP đã được ban hành, quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, bao gồm cả những hóa chất lưỡng dụng, vừa có ích trong công nghiệp hợp pháp (sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm) vừa có thể bị lạm dụng để sản xuất ma túy. Cơ chế này cho thấy hệ thống pháp luật không chỉ phản ứng mà còn chủ động cập nhật để kiểm soát nguồn cung, từ đó ngăn chặn hoạt động sản xuất ma túy từ xa.  

3.2. Quy định về xử lý vật chứng và tang vật

Việc xử lý vật chứng là một giai đoạn quan trọng của quá trình tố tụng, đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ. Theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, việc xử lý vật chứng (bao gồm ma túy, tiền chất, hóa chất, máy móc, công cụ) được quyết định bởi cơ quan có thẩm quyền và phải tuân theo quy trình cụ thể.  

Vật chứng là ma túy và tiền chất được xếp vào loại vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó sẽ bị tịch thu và tiêu hủy. Quá trình tiêu hủy này được thực hiện công khai, minh bạch, có sự chứng kiến và kiểm soát của nhiều cơ quan chức năng, bao gồm Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan Thi hành án dân sự, và được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Việc thiết lập một cơ chế kiểm soát đa ngành như vậy là cần thiết để đảm bảo tính liêm chính và ngăn chặn mọi khả năng thất thoát tang vật.

 

4. So sánh với tội tàng trữ trái phép ma túy

Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248 BLHS) và Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS) là hai tội danh thường dễ bị nhầm lẫn trong thực tiễn xét xử do cùng đối tượng tác động là chất ma túy. Tuy nhiên, việc phân biệt chính xác là rất quan trọng.

Tiêu chí Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249)
Căn cứ pháp lý

Điều 248 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 và năm 2025.

Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 và năm 2025.

Khách thể

Chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về việc chế xuất, điều chế, pha chế chất ma túy.  

Chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về việc bảo quản chất ma túy.  

Mặt khách quan

Hành vi làm ra chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (điều chế, chiết xuất, pha chế, tổng hợp).  

Hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ đâu. 

Mặt chủ quan

Lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích có thể là để kinh doanh, thu lợi bất chính hoặc để sử dụng cá nhân.  

Lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích là để sử dụng cá nhân, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất.  

Hình phạt

Từ 02 năm đến tử hình.  

Từ 01 năm đến chung thân (Bỏ án tử hình từ 1/7/2025 với tội danh này).

Việc phân biệt chính xác hai tội danh này là sống còn trong thực tiễn tố tụng. Ranh giới giữa sản xuất và tàng trữ, đặc biệt là khi hành vi sản xuất chỉ diễn ra một phần và mục đích là sử dụng cá nhân, có thể rất mong manh và gây nhiều tranh cãi. Chẳng hạn, một người trồng cây ma túy để lấy nhựa (sản xuất) nhưng sau đó cất giữ trong nhà (tàng trữ) thì hành vi nào là chủ yếu? Xác định hành vi ban đầu và mục đích chủ quan đòi hỏi điều tra viên phải có kỹ năng nghiệp vụ cao để tránh định tội danh sai, gây bất lợi cho bị can/bị cáo hoặc bỏ lọt tội phạm. Sự khác biệt về hành vi khách quan và mục đích chủ quan quyết định khung hình phạt và mức độ nghiêm trọng, do đó việc nhầm lẫn có thể dẫn đến việc kết án không đúng người, đúng tội.  

 

5. Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm ma túy

Việt Nam đã và đang thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc hợp tác quốc tế để chống lại tội phạm ma túy. Theo Quyết định số 798/QĐ-CTN ngày 1 tháng 9 năm 1997, Việt Nam đã tham gia ba Công ước quan trọng của Liên Hợp Quốc về kiểm soát ma túy. 

Tên Công ước Năm Nội dung chính
Công ước thống nhất về các chất ma túy 1961 Thiết lập hệ thống kiểm soát quốc tế đối với các chất ma túy nguồn gốc tự nhiên và tổng hợp.
Công ước về các chất hướng thần 1971 Mở rộng hệ thống kiểm soát để bao gồm các chất hướng thần.
Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần 1988 Cung cấp khung pháp lý để truy tố các tội phạm liên quan đến ma túy và tạo điều kiện cho hợp tác quốc tế.

Việc tham gia các Công ước này là nền tảng pháp lý vững chắc cho các hoạt động hợp tác song phương và đa phương của Việt Nam.

Hợp tác quốc tế đã đi vào chiều sâu, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng Việt Nam (Bộ Công an, Cục Hải quan) và các tổ chức quốc tế như Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) và Interpol. Sự phối hợp này diễn ra dưới nhiều hình thức, từ trao đổi thông tin tình báo, điều tra chung đến đào tạo năng lực chuyên môn và hỗ trợ trang thiết bị.  

Một ví dụ cụ thể về sự phối hợp là việc Bộ Công an Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Cơ quan phòng chống ma túy Hoa Kỳ (DEA) từ năm 2006. Mối quan hệ này đã phát triển từ các hoạt động huấn luyện, nâng cao năng lực sang một cơ chế hợp tác trực tiếp trong việc trao đổi thông tin và phối hợp điều tra các tội phạm ma túy xuyên quốc gia. Nhờ sự hợp tác này, nhiều đường dây tội phạm quốc tế đã bị triệt phá từ gốc rễ, cho thấy tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong cuộc chiến chống tội phạm ma túy toàn cầu. Gần đây, việc bắt giữ một đối tượng người Việt tại Thái Lan với sự hỗ trợ của Interpol cũng là một minh chứng cho hiệu quả của hợp tác này.

Dựa trên các tài liệu đã thu thập, việc thực hiện một phân tích so sánh chi tiết giữa Việt Nam và một hoặc hai quốc gia khác trong khu vực (như Thái Lan, Malaysia) về khung hình phạt và định lượng ma túy là không khả thi. Các nguồn dữ liệu được cung cấp không chứa thông tin chi tiết về luật pháp của các quốc gia này, mà chủ yếu tập trung vào các quy định của Việt Nam. Ví dụ, một số nguồn có vẻ đề cập đến luật của nước ngoài nhưng nội dung lại là Điều 251 BLHS của Việt Nam. Do đó, báo cáo sẽ chỉ ra rõ ràng hạn chế này và khẳng định rằng cần phải có thêm nguồn dữ liệu độc lập, đáng tin cậy để thực hiện một phân tích so sánh đầy đủ và chính xác.  

6. Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện 

Phân tích các báo cáo và số liệu trong những năm gần đây cho thấy một xu hướng đáng chú ý. Theo thống kê, số vụ án ma túy được triệt phá tăng mạnh, đặc biệt trong quý I/2024 và đầu năm 2025. Lực lượng chức năng đã đấu tranh thành công hơn 9,000 vụ án, bắt giữ hàng chục nghìn đối tượng và thu giữ hàng tấn ma túy.  

Mặc dù các số liệu công bố thường tổng hợp chung các tội danh (sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển), việc triệt phá thành công các đường dây sản xuất ma túy tổng hợp quy mô lớn do người nước ngoài cầm đầu cho thấy công tác đấu tranh đang ngày càng hiệu quả. Sự gia tăng số vụ không nhất thiết phản ánh tình trạng tội phạm gia tăng mà có thể là kết quả của việc lực lượng chức năng đã nâng cao năng lực điều tra, phát hiện và triệt phá thành công nhiều đường dây, đặc biệt là các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia.

Trong thực tiễn, việc điều tra, truy tố, xét xử tội sản xuất trái phép chất ma túy vẫn gặp phải một số khó khăn và vướng mắc:

  • Thiếu văn bản hướng dẫn thống nhất: Các cơ quan tố tụng hiện vẫn phải áp dụng các văn bản hướng dẫn cũ như Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP vốn được ban hành cho BLHS 1999. Điều này dẫn đến tình trạng không thống nhất trong việc giải thích và áp dụng pháp luật, đặc biệt đối với các loại ma túy mới hay phương thức sản xuất phức tạp chưa được đề cập.  
  • Tranh cãi về định tội danh: Ranh giới giữa các tội danh ma túy rất mong manh, đặc biệt là khi hành vi sản xuất chỉ diễn ra một phần và mục đích là sử dụng cá nhân. Việc phân biệt hành vi "pha chế" để sử dụng với hành vi "pha chế" để sản xuất vẫn là một điểm gây nhiều tranh cãi trong thực tiễn tố tụng.  
  • Vướng mắc trong công tác giám định: Như đã phân tích, thời gian giám định chất ma túy thường không đủ để đáp ứng thời hạn tạm giữ, gây áp lực lớn cho cơ quan điều tra. Bên cạnh đó, thiếu hụt kinh phí và trang thiết bị hiện đại tại nhiều cơ quan giám định cũng là một rào cản lớn, khiến cho việc xác định chính xác hàm lượng ma túy trong các hỗn hợp phức tạp trở nên khó khăn.   

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống, đề xuất các khuyến nghị sau:

  • Tăng cường năng lực đấu tranh đầu tư vào khoa học công nghệ, đào tạo chuyên sâu cho lực lượng chức năng về giám định ma túy, theo dõi và triệt phá các đường dây sản xuất sử dụng công nghệ cao.
  • Siết chặt quản lý tiền chất xây dựng cơ chế kiểm soát minh bạch và hiệu quả hơn đối với các hóa chất lưỡng dụng, bao gồm việc theo dõi chặt chẽ chuỗi cung ứng và các giao dịch bất thường để phát hiện kịp thời các hoạt động sản xuất trái phép.
  • Đẩy mạnh hợp tác quốc tế tiếp tục củng cố và mở rộng hợp tác với các tổ chức như UNODC, Interpol và các cơ quan phòng chống ma túy của các nước, tập trung vào việc trao đổi thông tin tình báo và phối hợp điều tra các chuyên án xuyên quốc gia.
  • Chú trọng vào phòng ngừa xã hội triển khai các chương trình giáo dục và tuyên truyền hiệu quả, không chỉ tập trung vào hậu quả pháp lý mà còn phân tích các yếu tố tâm lý và xã hội dẫn đến hành vi phạm tội, nhằm thay đổi nhận thức và giảm thiểu động cơ "muốn giàu nhanh" bất hợp pháp.
  • Cải thiện dữ liệu thống kê cải tiến hệ thống thu thập và báo cáo dữ liệu tội phạm để phân tách rõ ràng giữa các tội danh (sản xuất, mua bán, vận chuyển), từ đó có thể đánh giá chính xác hơn hiệu quả của công tác đấu tranh đối với từng loại tội phạm ma túy.

Kết luận

Tội sản xuất trái phép chất ma túy là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, gây ra những tổn hại nặng nề và mang tính hệ thống cho xã hội. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước mà còn là cội nguồn của nhiều loại tội phạm ma túy khác. Việc xử lý nghiêm minh tội danh này, đồng thời phân biệt rõ với các tội danh tương tự (như tàng trữ, vận chuyển), có ý nghĩa then chốt trong công tác phòng, chống ma túy.

Trong bối cảnh tội phạm ma túy ngày càng phức tạp, việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, khắc phục sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật là vô cùng cần thiết. Nền tảng pháp lý vững chắc, cùng với sự đầu tư vào năng lực thực thi và công tác giám định, sẽ giúp cơ quan tố tụng xác định "đúng người, đúng tội", góp phần xây dựng một nền tư pháp hình sự công bằng, hiệu quả và hiện đại, thể hiện sự cân bằng giữa tính nghiêm minh của pháp luật và tính nhân văn trong chính sách hình sự của Nhà nước.

Trên đây là những tư vấn của Luật Minh Khuê về mức xử phạt đối với tội sản xuất trái phép chất ma tuý. Nếu quý bạn đọc còn vướng mắc, xin vui lòng liên hệ với tổng đài luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến: 1900.6162 để được hỗ trợ nhanh chóng nhất.Trân trọng!