1. Tội sản xuất trái phép chất ma túy
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 248 BLHS năm 2015 sđ, bs năm 2017 về tội sản xuất trái phép chất ma túy
1. Người nào sản xuất trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội quy định tại các điều luật khác nhau, từ Điều 247 đến Điều 249 của Bộ luật Hình sự mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) nếu các tội phạm đó không bằng nhau thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội theo điều luật có quy định tội nặng hơn.
Đối chiếu với quy định trên thì anh A chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất trái phép chất ma túy theo Điều 248 Bộ luật Hình sự.
2. Tùy vào tính chất và mức độ vi phạm mà người phạm tội sẽ bị xử lý về Tội sản xuất trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự như sau:
“1. Người nào sản xuất trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:”
>> Tham khảo dịch vụ: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;
2. Đừa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự về tội phạm ma túy, gọi:1900.6162
Trả lời:
Theo thông tin mà chúng tôi được biết thì cơ sở cai nghiện Nhị Xuân là một trong những cơ sở thí điểm của thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm tạm tiếp nhận người vi phạm vào các cơ sở cai nghiện cắt cơn giải độc và chờ quyết định từ Tòa án. Như vậy, việc lúc đầu em bạn bị đưa đến đây là đúng theo quy định của pháp luật. Theo đó, đối với các trường hợp chưa xác mnh được nơi cư trú ổn định tức người sử dụng ma túy bị bắt quả tang mà không có nơi cư trú ổn định sẽ bị tạm đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, việc có chính thức buộc em bạn phải cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc hay không phụ thuộc vào việc có thể xác minh được nơi cư trú ổn định cho em bạn và quyết định của Tòa án Q10 trog trường hợp này.
Đối với quyết định của Tòa án quận 10 thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ_CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
"Điều 3. Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính gồm:
1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.
2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định."
Căn cứ vào quy định trên, mặc dù em bạn chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định (có nhưng không thể xác minh được trong thời gian giải quyết của tòa án). Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 221/2013/NĐ_CP, nơi cư trú ổn định được định nghĩa là nơi người vi phạm thường trú hoặc tạm trú, nhưng phải là nơi người đó hiện đang thường xuyên sinh sống. Như vậy, trong trường hợp này mặc dù chúng tôi không biết việc cô bạn làm thế nào để được cấp giấy xác minh cư trú ổn định cho em bạn tại Trà Vinh. Tuy nhiên, có thể thấy em bạn tại thời điểm vi phạm đang sinh sống và làm việc thường xuyên tại Thành Phố Hồ Chí Minh theo thông tin mà bạn cung cấp, do đó nơi cư trú ổn định của em bạn trong trường hợp này cần được xác nhận phải là nơi em bạn thường trú hoặc tạm trú ở thành phố Hồ Chí Minh.
Điều này cũng lý giải thắc mắc của bạn trong yêu cầu tư vấn về việc "nếu tạm đưa người vi phạm vào các cơ sở cai nghiện cắt cơn giải độc và chờ đợi quyết định từ Tòa Án thì làm sao người vi phạm có thể tự mình xác nhận cư trú". Trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền tại nơi người đó vi phạm sẽ dựa trên số liệu, thông tin mà người vi phạm cung cấp để tra cứu các thông tin về nơi thường trú, tạm trú,...hợp pháp đã được thực hiện theo trình tự, thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu cơ quan đăng ký hộ tịch của Q10 thành phố Hồ Chí Minh không lưu giữ những thông tin này tức là em bạn thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định tại thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc cô bạn muốn khiếu nại về quyết định trên, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011:
" Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình."
Như vậy, căn cứ vào khái niệm trên, có thể thấy, chủ thể khiếu nại phải là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm tức là em bạn trong trường hợp này chứ không phải cô bạn. Do đó, cô bạn không thể thực hiện quyền khiếu nại trong trường hợp này trừ trường hợp có giấy ủy quyền của em bạn.
3. Việc kết án đối với người tái nghiện?
>> Luật sư tư vấn tội phạm về ma túy, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Trước hết, khi thu giữ các chất nghi là ma túy hay tiền chất dùng vào việc sản xuất ma túy, cơ quan công an sẽ trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất ma túy.
Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì dù khối lượng chất ma túy là bao nhiêu cũng sẽ phải chịu TNHS theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Việc xác định hàm lượng, trọng lượng chất ma túy nhằm mục đích xác định khung hình phạt cụ thể đối với tội phạm này.
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:...
Như vậy trong trường hợp này, anh của bạn bị kết án như vậy nếu bạn muốn kháng cáo thì bạn phải yêu cầu cơ quan điều tra xác minh rõ đó là loại ma túy gì, khối lượng của nó là bao nhiêu vì nếu khối lượng ma túy đó rất nhỏ thì tội của anh bạn có thể bị nhẹ hơn và trong trường hợp này có tình tiết tăng nặng hay không vì trước đó anh đã từng nghiện ma túy. Đối với việc ký giấy tờ do cơ quan công an cấp thì gia đình nên đọc rõ mọi nội dung được viết trong đó vì lúc công an tra hỏi thì không được thu âm hay ghi lại mà nội dung trên giấy sẽ là chứng cứ để chống lại anh của bạn.
4. Vận chuyển 400g ma túy?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162
Trả lời:
Trước hết, khi thu giữ các chất nghi là ma túy hay tiền chất dùng vào việc sản xuất ma túy, cơ quan công an sẽ trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất ma túy. Tùy từng trường hợp mà bạn của bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên.
Trường hợp của anh bạn đã được giám định và kết luận trọng lượng ma túy là 400g. Do đó, không thể áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theoĐiều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 sđ, bs năm 2017
Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm........4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:.......e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;.......
Cụ thể, anh bạn phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm e Khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015 sđ, bs năm 2017 e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên. Nên khung hình phạt là phạt tù hai mươi năm, chung thân hoặc tử hình.
Về vấn đề anh bạn có được giảm hình phạt hay không:
Theo thông tin bạn cung cấp, anh bạn bị bạn bè rủ rê, lôi kéo. Tuy nhiên, đây không phải tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự; nên anh bạn sẽ không được giảm hình phạt. Tuy nhiên, đây là trường hợp đồng phạm nên khi quyết định hình phạt, Tòa án sẽ xem xét đến mức độ phạm tội của từng người để quyết định hình phạt cho phù hợp, theo Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 sđ, bs 2017
Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạmKhi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.
5. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Hành vi khách quan của tội phạm được mô tả là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Quy định mới này đã mô tả cụ thể hơn hành vi khách quan của tội phạm. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy được hiểu là hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người….) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Việc nhà làm luật đưa những nội dung hướng dẫn trong thông tư này vào BLHS làm căn cứ pháp lý chính thức trong việc truy cứu TNHS đối với Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực TNHS và đã thực hiện hành vi phạm tội. Đối với người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội này nếu là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện những hành vi đó.
Điều 249 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định 4 khung hình phạt chính:
– Khung 1. Quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, áp dụng đối với người phạm tội thuộc khoản 1.
– Khung 2.Quy định hình phạt tù từ 05năm đến 10 năm, áp dụng đối với người phạm tội thuộc khoản 2
– Khung 3.Quy định hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm, áp dụng đối với người phạm tội thuộc khoản 3.
– Khung 4.Quy định hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, áp dụng đối với người phạm tội thuộc khoản 4
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thế bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)