- 1. Hình phạt tử hình là gì?
- 2. Phải chăng việc áp dụng hình phạt tử hình là cần thiết vì nó được công chúng ủng hộ?
- 3. Hình phạt tử hình có vi phạm quy định về quyền sống được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế?
- 4. Phải chăng các quốc gia có thể tùy ý xác định các tội phạm có thể bị kết án tử hình?
- 5. Phải chảng các quốc gia có thể tùy ý xác định cách thức hành quyết tử tù?
- 6. Phải chăng các quốc gia có thể công khai hay không công khai thông tin về áp dụng hình phạt tử hình?
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
1. Hình phạt tử hình là gì?
Thuật ngữ "hình phạt tử hình" trong tiếng Anh ("capital punishment") có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “capitalis”, trong đó có gốc từ là caput, có nghĩa là cái đầu, với hàm ý rằng đầu là bộ phận gắn liền vói tính mạng, hình phạt làm mất đầu tức là việc tước bỏ tính mạng của một người. Còn theo gốc từ Hán - Việt, chữ “tử hình”, có nghĩa là hình phạt chết.
Có một số định nghĩa khác nhau về hình phạt tử hình, song xét ở phương diện pháp lý, có thể hiểu hình phạt tử hình là việc tước bỏ tính mạng của con người theo bản án được tuyên bởi một Tòa án được lập ra một cách hợp pháp, nhằm trừng phạt người đó vì đã phạm một tội ác đặc biệt nghiêm trọng.
Mặc dù vậy, trong thời kỳ hiện đại, hình phạt tử hình là một đề tài gây nhiều tranh cãi trên thế giới, về cơ bản, những tranh cãi quy vào hai vấn đề chính là tính đạo đức và tính pháp lý của hình phạt này. Câu hỏi trọng tâm của cuộc tranh cãi từ trước tới nay là: liệu hình phạt tử hình có phải là biện pháp ngăn chặn tội phạm duy nhất có hiệu quả hay không?
Tuy nhiên, cho dù có sự tranh cãi, xu hướng phổ biến trên thế giới trong những thập kỷ gần đây là giảm dần và tiến tối xóa bỏ hình phạt tử hình. Đồng thời, các quốc gia đã và đang thay đổi các phương pháp thi hành án cũng như cải tiến các thủ tục tố tụng để việc áp dụng hình phạt này mang tính nhân đạo hơn.
Nội dung bài viết này Luật Minh Khuê nghiên cứu và tổng hợp các tranh luận chủ yếu trên thế giới về hình phạt tử hình.
2. Phải chăng việc áp dụng hình phạt tử hình là cần thiết vì nó được công chúng ủng hộ?
Xét chung, quan điểm của công chúng ở các nước trên thế giới về việc sử dụng hình phạt tử hình, ngoài một số không thể hiện thái độ rõ ràng, số còn lại chia thành hai phe rõ rệt: ủng hộ và phản đối hình phạt này. Cả ở những quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình và hiện còn duy trì hình phạt tử hình đều có những người ủng hộ và phản đối. Ở hầu hết các quốc gia, công luận, và kể cả các chuyên gia, học giả và cơ quan nhà nước, đều không đạt được sự đồng thuận cao khi bàn đến vấn đề hình phạt tử hình, ở một số quốc gia, sự chia rẽ này là rất lớn, ví dụ, ở Hoa Kỳ, có nhiều bang đã xóa bỏ hình phạt tử hình, thậm chí từ rất sớm (ví dụ: bang Michigan đã bỏ hình phạt này từ năm 1843), tuy nhiên, còn những bang hiện vẫn đang duy trì hình phạt này và hằng năm vẫn thi hành rất nhiều hình phạt tử hình (ví dụ như: bang Texas)...
Từ thực tế kể trên, hầu hết các quốc gia còn duy trì hình phạt tử hình đều viện dẫn lý do công luận trong nước ủng hộ việc áp dụng hình phạt này. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia và tổ chức cho rằng, những lý do dẫn đến việc vẫn còn một bộ phận lớn công chúng ủng hộ hình phạt tử hình rất phức tạp, trong đó có việc thiếu thông tin thực tế. Theo họ, nếu công chúng được thông tin đầy đủ về thực trạng hình phạt tử hình và vì sao nó lại được áp dụng thì nhiều người có thể sẽ chấp nhận việc xóa bỏ hình phạt này, bởi sự ủng hộ của công chúng với hình phạt tử hình thường được dựa trên niềm tin là hình phạt này là biện pháp hiệu quả để phòng, chông tội phạm. Do vậy, trong bối cảnh các Chính phủ thường lập luận và vận động cho hình phạt tử hình như là một biện pháp phòng, chống tội phạm, công chúng sẽ yêu cầu cần áp dụng hình phạt này với niềm tin rằng nó sẽ giúp giải quyết vấn đề. Trong khi đó, điều mà đa số công chúng cần là những nguyên nhân và biện pháp thực sự hiệu quả để giảm thiểu tội phạm, song những thông tin về việc này không phải lúc nào cũng được các chính phủ cung cấp. Thêm vào đó, công luân thường phụ thuộc vào trình độ dân trí và sự định hướng về đạo đức. Do vậy, nếu như có những cuộc trao đổi thảo luận đa chiều về hình phạt tử hình thì quan điểm của công chúng về hình phạt tử hình có thể sẽ khác. Cuối cùng, thực tế cho thấy là ở đa số quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, Chính phủ đã đưa ra quyết định này trong hoàn cảnh công luận vẫn nghiêng về việc áp dụng hình phạt đó, tuy nhiên, khi quyết định xóa bỏ hình phạt tử hình được đưa ra thì thông thường, người dân ỗ các nước đó cũng không có phản ứng gì nhiều và Chính phủ nước đó hầu như không phải thay đổi quyết định bởi sự phản ứng của công luận.
3. Hình phạt tử hình có vi phạm quy định về quyền sống được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế?
Có quan điểm cho rằng hình phạt này là sự vi phạm quyền sống được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về quyền con người, cụ thể là trong Điều 6 ICCPR. Không những vậy, hình phạt này còn trái với quy định cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo được quy định trong Điều 7 ICCPR và tiềm ẩn những nguy cơ vi phạm các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế khác về xét xử công bằng và đối xử với tù nhân.
Trong khi đó, quan điểm khác cho rằng, luật quốc tế không cấm mà chỉ khuyến khích các quốc gia giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình. Vì vậy, việc một quốc gia áp dụng hình phạt này về nguyên tắc không trái với luật quốc tế nếu trước đó quốc gia chưa tham gia Nghị định thư tùy chọn về xóa bỏ hình phạt tử hình bổ sung Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR).
Trong thực tế, đúng là luật nhân quyền quốc tế chưa có quy định trực tiếp cấm áp dụng hình phạt tử hình, tuy nhiên, quy định tại khoản 6 Điều 6 ICCPR, trong đó nêu rằng: Không một quy định nào trong điều này có thể được viện dẫn để trì hoãn hoặc ngăn cản việc xoá bỏ hình phạt tử hình tại bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước" được nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng đã đặt ra nghĩa vụ với các quốc gia thành viên Công ước phải tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình.
4. Phải chăng các quốc gia có thể tùy ý xác định các tội phạm có thể bị kết án tử hình?
Có quan điểm cho rằng, vì luật nhân quyền quốc tế không có quy định cấm nên các quốc gia có thể áp dụng hình phạt tử hình với những tội phạm nào mà mình thấy cần.
Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, luật nhân quyền quốc tế tuy không có quy định cấm, nhưng đã đặt ra những giới hạn và điều kiện với việc áp dụng hình phạt tử hình của các quốc gia đã tham gia ICCPR.
Về vấn đề trên, theo khoản 2 Điều 6 ICCPR: Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xoá bỏ thì chỉ được phép áp dụng án tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện và không được trái với những quy định của Công ước này và của Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng. Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu lực pháp luật, do một toà án có thẩm quyền phán quyết. Các khoản 4, 5 và 6 Điều này bổ sung những điều kiện sau:
- Bất kỳ người nào bị kết án tử hình đều có quyển xin ân giảm hoặc xin thay đổi mức hình phạt. Việc ân xá, ân giảm hoặc chuyển đổi hĩnh phạt tử hình có thể được áp dụng đối với mọi trường hợp.
- Không được phép tuyên án tử hình với người phạm tội dưới 18 tuổi và không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai.
- Không một quy định nào trong điều này có thể được viện dẫn để trì hoãn hoặc ngăn cản việc xoá bỏ hình phạt tử hình tại bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước.
Về khái niệm “tội phạm nghiêm trọng nhất”, trong văn kiện Các bảo đảm về các quyền của những người bị kết án tả hình do Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) thông qua năm 1984 quy định: ở những quốc gia vẫn còn duy trì hình phạt tử hình, hình phạt này chỉ được áp dụng với những tội phạm nghiêm trọng nhất, mà được hiểu là những tội phạm thực hiện do chủ ý và gây ra hậu quả chết người hoặc những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác. Trong Khuyến nghị chung về Điều 6 của ICCPR, HRC nêu rằng: Quan điểm của ủy ban là quy định hình phạt tử hình chỉ được áp dụng với những tội phạm nghiêm trọng nhất cần được hiểu một cách chặt chẽ theo nghĩa hình phạt này chỉ được sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt. Theo ủy ban, những dạng tội phạm sau đây không được xếp vào dạng tội phạm nghiêm trọng nhất theo như Điều 6 ICCPR để có thể áp dụng hình phạt tử hình: các tội phạm kinh tế, trong đó bao gồm tội tham ô; các tội phạm về chính trị; tội trộm cướp; tội bắt cóc nhưng không gây ra chết người; các tội liên quan đến hành vi tình dục trái phép, bao gồm tình dạc đồng giới và tội bỏ đạo.
Cũng liên quan đến vấn đề trên, trong Nghị quyết số 2005/59 ngày 20-4-2005 của ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc về vấn đề hình phạt tử hình, UNCHR thúc giục các quốc gia vẫn còn duy trì hình phạt tử hình bảo đảm rằng hình phạt này không được áp dụng với những hành vi phi bạo lực. Chẳng hạn như các tội phạm liên quan đến hoạt động tài chính, hoạt động tôn giáo, tự do ngôn luận, tư tưởng hoặc quan hệ tình dục có thỏa thuận giữa người lớn với nhau. Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về việc hành quyết độc đoán, rút ngắn thủ tục cũng cho rằng, hình phạt tử hình cần phải được xóa bỏ với những tội phạm như tội phạm kinh tế, tội phạm liên quan đến ma túy. Theo Báo cáo viên này, những hạn chế quy định trong bảo đảm thứ nhất của văn kiện các bảo đảm về các quyền của những người bị kết án tử hình của ECOSOC đã loại trừ khả năng áp dụng hình phạt tử hình với những tội phạm kinh tế và những tội phạm được gọi là tội phạm không có nạn nhân trực tiếp (“victimless offences”), hoặc với những hoạt động có tính chất tôn giáo hay chính trị, bao gồm các hoạt động phản quốc, làm gián điệp và những hành động khác mà cấu thành hành vi của nó mang tính trừu tượng, chẳng hạn như tội chống lại tổ quốc hay tội phản bội và dạng tương tự. Nguyên tắc này cần loại trừ việc áp dụng hình phạt tử hình với những hành động mà bị coi là ảnh hưởng đến các giá trị đạo đức chung, chẳng hạn như ngoại tình, mại dâm hoặc các hành vi tình dục.
5. Phải chảng các quốc gia có thể tùy ý xác định cách thức hành quyết tử tù?
Có quan điểm cho rằng, vì luật nhân quyền quốc tế không có quy định cấm nên các quốc gia không những có thể áp dụng hình phạt tử hình với những tội phạm nào mà mình thấy cần, mà còn có quyền áp dụng cách thức hành quyết tử tù nào mà mình thấy phù hợp.
Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, luật nhân quyền quốc tế tuy không có quy định cấm nhưng các quốc gia cũng phải áp dụng những cách thức hành quyết tử tù mang tính chất nhân đạo.
Về vấn đề trên, các cơ quan của Liên hợp quốc từ lâu đã khuyến nghị các quốc gia không sử dụng những hình thức thi hành án tử hình được cho là tàn bạo, vô nhân đạo. Ví dụ, trong Nghị quyết số 2005/59 ngày 20-4-2005, ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia thành viên tổ chức này mà vẫn duy trì hình phạt tử hình bảo đảm rằng bất kỳ biện pháp thi hành án tử hình nào mà có tính chất tàn bạo, vô nhân đạo, chẳng hạn như phương pháp ném đá đến chết, cần phải được xóa bỏ ngay lập tức.
Trong những cách thức thi hành án tử hình thì việc hành quyết tử tù trước đám đông công chúng (đôi khi bao gồm cả việc đưa bêu riếu tử tù trên đường từ nơi giam giữ ra pháp trường và bêu xác tử tù sau khi hành quyết) là một trong những cách thức bị phản đối gay gắt nhất. Cách thức thi hành án tử hình này bị cho là tàn bạo, hạ thấp nhân phẩm con người, kích động tâm lý hận thù, bạo lực và khát máu. Về vấn đề này, cũng trong Nghị quyết nêu trên, Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã khuyến nghị các quốc gia thành viên bảo đảm rằng ở những nơi còn thi hành hình phạt này sẽ không hành quyết tử tù trước công chúng hoặc theo bất kỳ hình thức hạ thấp nhân phẩm nào khác.
6. Phải chăng các quốc gia có thể công khai hay không công khai thông tin về áp dụng hình phạt tử hình?
Có quan điểm cho rằng thông tin về thực thi pháp luật tố tụng hình sự nói chung, về áp dụng hình phạt tử hình nói riêng, là các vấn đề thuộc chủ quyền đối nội của các quốc gia, vì thế các quốc gia có thể công khai hoặc không công khai.
Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, theo các nguyên tắc có liên quan của luật nhân quyền quốc tế, các quốc gia thành viên ICCPR có nghĩa vụ công khai thông tin về áp dụng hình phạt tử hình.
Liên quan đến vấn đề trên, trong Nghị quyết số 1989/64 ngày 24-5-1989 của Hội đồng kinh tế và xã hội Liên hợp quốc về việc thực hiện các bảo đảm nhằm bảo vệ quyền của những người phải đối mặt với hình phạt tử hình, ECOSOC kêu gọi các quốc gia thành viên Liên hợp quốc vẫn còn duy trì hình phạt tử hình hằng năm công khai về những tội phạm mà có thể tuyên hình phạt này, việc áp dụng hình phạt này trên thực tế, bao gồm số người bị kết án tử hình, số người đã bị hành quyết, số vụ án đã được xử trắng án hoặc thay đổi tội danh sau khi phúc thẩm, số vụ được ân giảm, cũng như thông tin về những bảo đảm liên quan đến những trường hợp bị kết án tử hình quy định trong pháp luật quốc gia. Tương tự, trong Nghị quyết số 2005/59 ngày 20-4-2005, Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên tổ chức này công khai những thông tin liên quan đến việc áp dụng hình phạt tử hình và về bất kỳ vụ thi hành án tử hình nào đã được lên kế hoạch. Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về việc hành quyết độc đoán, rút ngắn thủ tục cho rằng: tính công khai là cốt yếu ở bất kỳ nơi nào mà vẫn còn áp dụng hình phạt tử hình. Việc giữ kín thông tin về vấn đề này là sự vi phạm các tiêu chuẩn về quyền con người. Tất cả các vụ thi hành án tử hình cần được công bố công khai đầy đủ và cần có báo cáo tổng thể, định kỳ về vấn đề ít nhất là hằng năm.
Còn tiếp phần hai >> xem tại đây: Hình phạt tử hình và các quan điểm về hình phạt tử hình (phần II)
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập