Luật Minh Khuê nghiên cứu và tổng hợp các tranh luận trên thế giới về hình phạt tử hình thông qua 2 phần. Bạn đọc có thể xem phần I tại đây: Hình phạt tử hình và những quan điểm về hình phạt tử hình (phần I)

Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

1. Hình phạt tử hình có phải là biện pháp răn đe hiệu quả hơn so với các hình phạt khác?

Có quan điểm cho rằng, hình phạt tử hình là biện pháp có hiệu quả răn đe đặc biệt so với các hình phạt khác, vì thế nó là hình phạt không thể thay thế trong việc ngăn ngừa loại tội phạm nghiêm trọng, ví dụ như tội giết người. Hiện hầu hết các quốc gia trên thế giới còn duy trì hình phạt tử hình đều viện dẫn điều đó như là một lý do chính để tiếp tục áp dụng hình phạt này.

Trong khi đó, quan điểm khác cho rằng, hình phạt tử hình không có tác dụng ngăn chặn tội phạm hơn so với các loại hình phạt khác. Điểm khác biệt có chăng chỉ là tính tàn khốc và không thể khắc phục được lại (khi sai sót) của hình phạt tử hình.

Trên thực tế, đã có một số nghiên cứu trên thế giới đưa ra những số liệu thống kê ủng hộ tác dụng ngăn chặn vượt trội của hình phạt tử hình vối tội giết người. Ví dụ, ở Anh, theo số liệu của Bộ Nội vụ nước này, tỷ lệ tội phạm giết người tăng lên gấp đôi kể từ khi hình phạt tử hình bị xóa bỏ (năm 1964), cụ thể là từ 300 vụ năm 1964 lên 565 vụ năm 1994 và 833 vụ năm 2004. Hay như ở Hoa Kỳ, xét trong giai đoạn 1993-1997, khi số bản án tử hình được tuyên và thi hành tăng thì tỷ lệ tội phạm giết người giảm 26%, …

Công trình nghiên cứu nổi tiếng nhất về tác dụng ngăn chặn tội phạm của hình phạt tử hình là của tiến sĩ Issac Ehrlich (nhà kinh tế học và nhà nghiên cứu người Mỹ), công bố vào năm 1975. Trong nghiên cứu này, Ehrlich sử dụng những phân tích thống kê kinh tế phức tạp để tìm hiểu mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và tội giết người và đi đến kết luận rằng, trong khoảng thời gian từ 1933 đến 1965 cứ mỗi một cuộc thi hành án tử hình... trung bình có thể làm giảm từ 7 đến 8 vụ giết người. Tuy nhiên, công trình của Ehrlich bị nhiều chuyên gia khác phê phán là thiếu tin cậy cả về nội dung và phương pháp, và bản thân Ehrlich cũng thừa nhận là nghiên cứu này chưa đủ cơ sở để có thể đi tới quyết định sử dụng hình phạt tử hình nhiều hơn so với các hình phạt khác. Ngoài công trình của Ehrlich, một vài công trình nghiên cứu khác áp dụng phương pháp thống kê của ông (ví dụ như: công trình do Dezhbakhsh và một số đồng nghiệp khác thực hiện) cũng kết luận rằng, mỗi hình phạt tử hình được thi hành trung bình làm giảm từ 3 đến 18 vụ phạm tội giết người,…

Nhưng đồng thời cũng có những nghiên cứu cho kết quả trái ngược với những nghiên cứu kể trên. Cụ thể, các cuộc khảo sát do Liên hợp quốc thực hiện (lần đầu tiên vào năm 1988 và được cập nhật vào các năm 1996 và 2002) về mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và tỷ lệ phạm tội ở nhiều quốc gia trên thế giới đã kết luận rằng: Không tìm thấy những chứng cứ khoa học cho thấy việc thi hành án tử hình có tác dụng ngăn chặn tội phạm tốt hơn so với việc áp dụng hình phạt tù chung thân, … Các chứng cứ đều dẫn đến nhận định là giả thuyết về hiệu quả tích cực của hình phạt tử hình với việc ngăn chặn tội phạm là sai lầm”. Hay những số liệu thống kê tội phạm ở một số quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình trong thời gian gần đây cho thấy, việc xóa bỏ hình phạt này không gây ra những tác động tiều cực với việc phòng ngừa tội phạm. Ví dụ, ở Canada, tỷ lệ phạm tội giết người đã giảm từ 3,09 người trên 100.000 dân vào 1975 (năm trước khi xóa bỏ hình phạt tử hình với tội này), xuống còn 2,41 vào 1980 và tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo. Vào năm 2003, sau 27 năm xóạ bỏ hình phạt tử hình, tỷ lệ phạm tội này ở Canada chỉ còn 1,73 trên 100.000 dân... Tương tự, ngay ở Hoa Kỳ, thống kê hàng năm do Cục Thống kê nước này đưa ra cho thấy 36 bang còn duy trì và thi hành án tử hình, tỷ lệ phạm tội giết người lại cao hơn so với ở các bang mà hình phạt này đã được xóa bỏ hoặc vẫn duy trì nhưng không thường xuyên áp dụng.

Công trình nghiên cứu nổi tiếng nhất chứng minh hình phạt tử hình không có tác dụng vượt trội trong ngăn chăn tội phạm là của nhà tội phạm học người Mỹ Thorsten Sellin, công bố vào năm 1959. Trong công trình này, Thorsten Sellin khẳng định rằng hình phạt tử hình không có tác dụng ngăn chặn tội phạm hơn so với hình phạt tù chung thân. Thorsten Sellin cũng cho rằng, niềm tin về tác dụng đặc biệt trong việc răn đe tội phạm của hình phạt tử hình chủ yếu dựa trên sự suy đoán rằng những kẻ phạm tội đều suy tính về hậu quả có thể phải gánh chịu trước khi thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên, trên thực tế những kẻ phạm các tội ác đặc biệt nghiêm trọng như giết người ít khi suy tính như vậy. Ví dụ, một nghiên cứu của Tổ chức Ân xá quốc tế (AI) đã phát hiện ra rằng, rất ít tù nhân bị kết án tử hình ở Hoa Kỳ từ năm 1977 được hỏi cho rằng nỗi lo sợ hình phạt tử hình có tác dụng ngăn cản họ phạm tội, và một số người thậm chí đã quyết định thực hiện hành vi bất chấp những nguy cơ về hậu quả mà họ có thể phải gánh chịu với niềm tin rằng họ sẽ không bị bắt.

2. Hình phạt tử hình có phải là biện pháp cần thiết để ngăn ngừa một số tù nhân nguy hiểm tái phạm tội?

Có quan điểm cho rằng, những kẻ phạm các tội ác nghiêm trọng là những đối tượng rất nguy hiểm cho xã hội, khả năng tái phạm tội rất cao, bởi vậy, nếu không sử dụng hình phạt tử hình thì xã hội vẫn còn nguy cơ bị đe dọa nếu họ vượt ngục thành công hoặc được phóng thích.

Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, việc kết án tù chung thân, tức cách ly khỏi xã hội cả đời với những tội phạm này là đã đủ để bảo đảm an ninh cho cộng đồng. Trong hoàn cảnh bị tù chung thân, người tù không thể tái phạm tội được, khả năng vượt ngục là rất hãn hữu, do đó, việc thi hành án tử hình để ngăn chặn họ gây nguy hiểm cho xã hội là việc làm không cần thiết. Thêm vào đó, thực tế cho thấy không phải tất cả tù nhân phạm những tội ác nghiêm trọng khi được phóng thích đều tái phạm những tội mà họ bị kết án. Như vậy, việc thi hành án tử hình có nghĩa là loại trừ vĩnh viễn người tù ra khỏi cộng đồng nhằm phòng ngừa những tội phạm giả định có thể được họ tiếp tục thực hiện trong tương lai nếu như họ còn sống, mà không có cơ sở chắc chắn là họ sẽ thực hiện, ở góc độ khác, lo ngại về khả năng vượt ngục hoặc về việc sau khi được phóng thích tù nhân sẽ lại phạm tội có thể được giải quyết bằng cách củng cố những biện pháp an ninh và quản lý trong các nhà tù cũng như rà soát, sửa đổi những thủ tục và điều kiện phóng thích nhằm bảo đảm rằng tất cả những tù nhân được ân xá sẽ không tái phạm tội.

3. Hình phạt tử hình có phải là sự trả giá xứng đáng đối với những kẻ gây ra những tội ác?

Có quan điểm cho rằng việc một kẻ giết người hoặc gây ra những tội ác nghiêm trọng khác bị tước bỏ tính mạng là phù hợp với công lý vì “nợ máu phải trả bằng máu”.

Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, không nên sử dụng sự hành quyết để đáp trả hành động giết người. Làm như vậy mang tính chất là một sự trả thù và lặp lại hành động của kẻ phạm tội là sử dụng bạo lực để làm tổn hại người khác. Thêm vào đó, do tất cả các hệ thống tư pháp hình sự đều tồn tại những vấn đề và khả năng sai sót khi áp dụng hình phạt tử hình, vì vậy luôn tồn tại một nguy cơ là có những người vô tội bị kết án tử hình và bị tước bỏ tính mạng, và sai lầm này là không thể lấy lại được. Đó là chưa kể đến những hệ lụy khác, chẳng hạn như sự phân biệt đối xử trong việc áp dụng hình phạt tử hình (mà người nghèo và các nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác thường là nạn nhân) có thể gây ra những chia rẽ và bức xúc lớn trong xã hội.

Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng, việc một kẻ giết người bị kết án tử hình là cần thiết vì đó là hình thức đền bù thích đáng nhất cho những mất mát, đau khổ của những nạn nhân và gia đình họ. Một số người thậm chí cho rằng, việc tha tội chết cho những kẻ phạm tội giết người là một hành động phỉ báng với những nạn nhân và gia đình họ.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy, không phải tất cả nạn nhân hoặc gia đình của những nạn nhân đều cảm thấy được đền bù về mặt tâm lý khi kẻ phạm tội bị tử hình. Tại nhiều quốc gia, luôn có những gia đình nạn nhân tìm thấy sự thanh thản khi tha thứ cho kẻ phạm tội, với suy nghĩ rằng, không thể tìm được sự bình yên nội tâm bằng hành động theo kiểu “ăn miếng trả miếng”. Thậm chí, tâm lý của nạn nhân và gia đình nạn nhân sẽ bị khủng hoảng nghiêm trọng nếu do sai sót trong quá trình tố tụng dẫn đến việc tử hình một người vô tội. Ngoài ra, theo quan điểm của một số học giả, thì việc không áp dụng hình phạt tử hình không có nghĩa là bỏ qua tội ác của những kẻ phạm tội và coi nhẹ nỗi đau khổ của những nạn nhân và gia đình họ, bởi nếu không bị áp dụng hình phạt tử hình thì kẻ phạm tội sẽ phải chịu những hình phạt khác không kém phần khắc nghiệt như tù chung thân hoặc tù dài hạn.

4. Hình phạt tử hình “nhân đạo” và “đỡ tốn kém” hơn so với hình phạt tù chung thân?

Có quan điểm cho rằng, việc áp dụng hình phạt tử hình là cần thiết, vì nó nhân đạo hơn so với hình phạt tù chung thân mà vốn được sử dụng để thay thế khi hình phạt tử hình được xóa bỏ (theo pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, nếu không bị kết án tử hình thì sẽ bị kết án tù chung thân). Trong những trường hợp này, việc bị giam cầm cả đời hoặc một thời gian dài trong tù với những điểu kiện sinh hoạt, quản chế khắc nghiệt và sự dằn vặt của lương tâm đôi khi còn gây đau khổ cho kẻ phạm tội nhiều hơn so với việc bị kết án tử hình.

Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, cho đến khi nào còn được sống, cho dù bị kết án tù chung thân, một người tù vẫn còn có hy vọng được tái hòa nhập cộng đồng, được giảm án, ân xá hay được giải tội. Việc thi hành án tử hình sẽ triệt tiêu những cơ hội này của họ. Thêm vào đó, hình phạt tử hình không chỉ gây cho phạm nhân những đau đớn về thể chất khi bị hành quyết, mà còn khiến họ bị khủng hoảng tinh thần vô cùng nặng nề trong thời gian chờ đợi thi hành án. Bởi vậy, không thể nói là so với hình phạt tù chung thân, hình phạt tử hình có tính nhân đạo hơn.

Trên thực tế, việc sử dụng hình phạt tù chung thân như là biện pháp thay thế cho hình phạt tử hình hiện đang là một vấn đề gây tranh cãi không chỉ trong xã hội mà cả trong giới luật sư. Những tranh cãi này được phân tích một cách khá toàn diện trong một bài báo có tiêu đề: “Những ý kiến tán thành và ủng hộ hình phạt tù chung thân” của Catherine Appleton & Bent Grover đăng trên Tạp chí Hình sự Anh (British Journal of Criminology). Trong đó tác giả khảo sát tình trạng gia tăng của việc sử dụng hình phạt chung thân Hoa Kỳ và phản đối việc coi đó là một hình phạt cuối cùng. Một bài báo khác có tiêu đề là: “Vấn đề sống hay chết: Tác động của các chế độ tù chung thân không được ân giảm lên hình phạt tử hình” đăng trên Tạp chí Luật Harvard (Harvard Law Review) thì so sánh hai hình phạt tử hình và chung thân không được ân giảm như sau: “Trong khi hình phạt tử hình và hình phạt tù chung thân không được ân giảm chắc chắn là không ngang nhau về mức độ khắc nghiệt, cần phải so sánh chi phí của hai loại hình phạt này. Từ chốixem xét tác động của hình phạt tù chung thân không được ân giảm có nghĩa là ủng hộ hoặc khuyến khích một đạo luật mà buộc 25 người phải làm việc nhà tù suốt đời chỉ để bảo đảm là một người không bị hành quyết. Đây chính là tính thiếu thuyết phục trong quan điểm của những người phản đối hình phạt tử hình”. Tuy nhiên, các tác giả của bài báo cũng nêu rõ, mục đích nghiên cứu của họ không phải để khẳng định sự cần thiết phải xóa bỏ hình phạt tù chung thân không được ân giảm mà nhằm chứng minh rằng các quy định về hình phạt tù chung thân không được ân giảm hiện tại là không thích hợp và không nên được sử dụng để ủng hộ cho việc xóa bỏ hình phạt tử hình, và rằng những người phản đối hình phạt tử hình có trách nhiệm nghiên cứu cẩn thận những tác động của hình phạt tù chung thân trước khi khuyến khích hoặc vận động cho việc sử dụng nó thay thế cho hình phạt tử hình.

Ở một góc độ khác, có quan điểm cho rằng, cần áp dụng hình phạt tử hình vì việc giam giữ tù nhân, đặc biệt là những người bị kết án tù chung thân, đòi hỏi những chi phí lớn về cơ sở vật chất, nhân lực để bảo đảm họ không thể trốn trại và tiếp tục gây nguy hiểm cho xã hội. Thực tế cho thấy, ở hầu hết các quốc gia, chi phí giam giữ tù nhân bị kết án chung thân lớn hơn nhiều so với việc hành quyết và mai táng tử tù.

Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, lập luận như trên thể hiện sự “vô cảm” trước tinh mạng con người. Ngoài ra, trên thực tế, ở một số quốc gia, chi phí cho hình phạt tử hình đôi khi tốn kém hơn rất nhiều so với hình phạt tù chung thân. Ở đây, chi phí cho hình phạt tử hình không chỉ đơn thuần bao gồm những chi phí cho việc hành quyết và mai táng tử tù, mà còn bao gồm những chi phí cho hoạt động tố tụng liên quan đến vụ việc. Theo cách tiếp cận này, một nghiên cứu của Trường đại học Duke của Hoa Kỳ cho thấy, chi phí vượt trội của một trường hợp tử hình so với việc xử tù chung thân ở bang Bắc Carolina lên tới 2,16 triệu đôla. Tương tự, một nghiên cứu tiến hành vào năm 1991 bang Texát cho kết quả là các chi phí tố tụng cho một hình phạt tử hình kể từ khi tuyên đến khi thi hành án ở bang này là 2,316 triệu đôla, trong khi chi phí tối đa cho việc giam giữ một tù nhân trong vòng 40 năm chỉ là 750 ngàn đôla. Nghiên cứu ở bang Florida cùng cho kết quả tương tự. Ở bang này, chi phí cho mỗi hình phạt tử hình trung bình hết 3,18 triệu đôla, trong khi chi phí giam giữ một người tù trong một năm trung bình hết 17 ngàn đôla, tính ra trong vòng 40 năm (thời hạn trung bình tối đa của một hình phạt tù chung thân) là 680 ngàn đôla.

5. Hình phạt tử hình là trái hay phù hợp với giáo lý của các tôn giáo?

Ngoại trừ Phật giáo không có quy định về hình phạt tử hình, hai tôn giáo lớn khác của thế giới (Thiên chúa giáo và Hồi giáo) đều có những quy định trực tiếp hoặc gián tiếp về hình phạt tử hình. Chính vì vậy, một số người ủng hộ hình phạt tử hình đã trích dẫn những quy định có liên quan trong Thiên chúa giáo và Hồi giáo để cổ vũ cho việc duy trì hình phạt này, thậm chí là kêu gọi tái quy định hoặc mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tử hình với những hành vi mà trước kia có thể bị tử hình nhưng nay đã bị xóa bỏ trong pháp luật của các nước (chẳng hạn như hành vi đồng tính luyến ái). Những người này còn cho rằng, việc xóa bỏ hình phạt tử hình là chống lại những tôn giáo chính của thế giới.

Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi tín đồ của hai tôn giáo kể trên đều ủng hộ hình phạt tử hình. Nhiều tín đồ thậm chí rất tích cực trong phong trào toàn cầu phản đối việc áp dụng hình phạt tử hình. Những tín đồ Thiên chúa giáo phản đối hình phạt tử hình cũng viện dẫn và giải thích nhiều quy định cả trong kinh Cựu ước và Tân ước để chứng minh cho lập trường của mình. Cụ thể, họ viện dẫn phần trích trong Tân ưowcs (the Gospel of John, đoạn 8:7, trong đó nói về việc Chúa Giêsu đã dùng quyền lực can thiệp để cứu Giôn (John) khỏi bị thi hành án tử hình bằng cách ném đá cho đến chết) để nói rằng ý Chúa phản đối hình phạt tử hình. Ngoài ra, nhóm này cũng cho rằng, Chúa sắp đặt cuộc sống của mọi người trên thế gian, kể cả việc ban cho mỗi người cái chết một cách tự nhiên nên mọi hành động tước đoạt tính mạng của một người cũng đều là ngăn cản công việc của Chúa.

Về vấn đề trên, theo AI, những tôn giáo chính của thế giới đều nhấn mạnh lòng nhân đạo, cảm thông và tha thứ trong giáo lý của mình và việc kêu gọi xóa bỏ hình phạt tử hình chính là thực hiện tinh thần nhân đạo của những giáo lý đó. Cũng theo tổ chức này, những tôn giáo chính của thế giới đều hiện diện ở cả hai nhóm quốc gia đã hoặc đang còn duy trì hình phạt tử hình, tương tự, những người ủng hộ và phản đối hình phạt tử hình cũng sinh sống ở nhiều quốc gia và thuộc vào nhiều tôn giáo chính khác nhau. Như vậy, việc duy trì hay xóa bỏ hình phạt tử hình không phải là ngoại lệ với bất kỳ quốc gia hoặc tôn giáo cụ thể nào nên không thể nói việc xóa bỏ hình phạt tử hình nghĩa là đang chống lại bất kỳ tôn giáo cụ thể nào.

6. Hình phạt tử hình có phù hợp với đạo đức xã hội?

Có quan điểm cho rằng, hình phạt tử hình có tính chất “quá tàn khốc” nên có thể coi đó là “sự phản ứng một cách thái quá với những vấn đề con người phức tạp”, “là triệu chứng của một nền văn hóa bạo lực chứ không phải là một phương thuốc cho nền văn hóa đó”.

Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, với những phương pháp thi hành án tử hình mới sẽ cho phép giảm thiểu đến mức tối đa sự đau đớn của tử tù trong quá trình hành quyết, vì vậy, vấn đề đạo đức xã hội là không đáng lo ngại. Thêm vào đó, những người ủng hộ hình phạt tử hình cho rằng cần phải công bằng khi đề cập vấn đề đạo đức xã hội khi áp dụng hình phạt này. Cụ thể, việc áp dụng hình phạt tử hình, nếu bị coi là làm tổn hại phẩm giá của tử tù thì việc không áp dụng hình phạt này cũng có thể bị coi là làm tổn hại phẩm giá của nạn nhân.

Đáp lại quan điểm trên, những người phản đối hình phạt tử hình cho rằng, thực tế cho thấy không có hình thức hành quyết nào là hoàn toàn không đau đớn với tử tù, mà chỉ có mức độ (chủ yếu thể hiện ở thời gian phải chịu đựng) đau đớn là khác nhau. Thêm vào đó, ngoài nỗi đau thể chất còn có nỗi đau tinh thần mà những tử tù và người thân của họ phải gánh chịu. Với những tử tù, nỗi đau thể chất chỉ diễn ra rất nhanh khi họ bị hành quyết, nhưng sự khủng hoảng tinh thần suốt thời gian chờ đợi thi hành án (bắt đầu từ khi bị tuyên án và kéo dài tới khi họ bị hành quyết, mà có trường hợp lên đến cả chục năm) mới thực sự khủng khiếp. Đối với gia đình tử tù, nỗi đau tinh thần thậm chí còn đeo đẳng họ đến nhiều năm sau khi người thân bị thi hành án và không chỉ ảnh hưởng tới một thế hệ. Chính vì vậy, đây cũng là một vấn đề quan trọng gây chia rẽ trong các xã hội liên quan đến việc duy trì hay xóa bỏ hình phạt tử hình.

Ở một góc độ khác, những tranh luận xoay quanh câu hỏi liệu hình phạt tử hình có kích động tâm lý hận thù và phá hoại những giá trị khoan dung, nhân đạo trong xã hội hay không?

Về câu hỏi trên, có quan điểm cho rằng việc tử hình những kẻ phạm tội ác nghiêm trọng là để mang lại công lý cho nạn nhân và gia đình họ và để ngăn chặn tội phạm, và do đó gián tiếp có tác dụng bảo vệ nền tảng và những giá trị đạo đức trong xã hội. Trong khi đó, quan điểm khác cho rằng, do tính tàn khốc của nó mà hình phạt tử hình làm tổn hại lòng nhân đạo và sự khoan dung - những giá trị đạo đức cơ bản mà tất cả các xã hội đều cần phải vun bồi. Đặc biệt, trong vấn đề này, sức phá hoại là rất lớn khi việc thi hành án tử hình được thực hiện công khai trước công chúng hoặc khi tử tù bị đưa ra pháp trường trước công chúng. Trong những trường hợp đó, việc áp dụng hình phạt tử hình giống như là sự cổ vũ cho tâm lý bạo lực và trả thù - điều mà sẽ không làm cho xã hội trở nên lành mạnh và an toàn hơn mà ngược lại, làm cho nó có tính chất bạo lực hơn. Ngoài ra, ở góc độ hẹp, “tâm lý hận thù” gia đình nạn nhân hoặc hận thù xã hội có thể phát sinh trong số người thân của tử tù, đặc biệt trong những trường hợp việc xét xử tử tù tỏ ra không công bằng hoặc oan sai.

7. Liệu có hoàn cảnh nào mà việc tước bỏ mạng sống của một người là được chấp nhận?

Trên thực tế, có những tình huống mà việc tước bỏ tính mạng của một người được coi là hợp lý và hợp pháp, cụ thể như tình huống buộc phải tự vệ để bảo toàn tính mạng trước sự tấn công truy sát của một người hoặc tình huống cảnh sát phải tấn công kẻ phạm tội đang đe dọa mạng sống của một hoặc nhiều người khác trong cộng đồng hoặc mạng sống của chính họ khi đang thi hành công vụ. Mặc dù vậy, cần lưu ý là trong cả hai tình huống đã nêu, pháp luật các nước đều đòi hỏi hành động phòng vệ chính đáng phải cân bằng với mức độ nguy hiểm mà kẻ phạm tội gây ra.

Một bối cảnh khác mà trong đó việc tước đoạt tính mạng của con người không bị coi là trái pháp luật, kể cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, đó là trong các cuộc chiến tranh. Theo các quy tắc của luật quốc tế về xung đột vũ trang, việc tiêu diệt hoặc làm vô hiệu hóa khả năng kháng cự của kẻ thù là quyền của các bên tham chiến. Song cũng cần lưu ý là luật quốc tế về xung đột vũ trang đồng thời bao gồm rất nhiều quy định chi tiết nhằm giới hạn quyền được tiêu diệt kẻ thù trong chiến tranh vào một mục tiêu duy nhất đó là những chiến binh đang chiến đấu, đồng thời giới hạn các biện pháp để thực hiện quyền này. Những quy định đó bao gồm việc cấm sử dụng những loại vũ khí, biện pháp chiến tranh nhất định mà gây sát thương quá mức hay sát thương không phân biệt, cấm tấn công vào dân thường hay vào các mục tiêu dân sự, cấm tấn công những binh sĩ đối phương đã đầu hàng hoặc không còn khả năng kháng cự (bị thương, bị đắm tàu, bị ốm...).

Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn giữa hành vi tự vệ trong những tình huống kể trên với việc áp dụng hình phạt tử hình. Trong những tình huống kể trên, việc sử dụng vũ lực có tính chất là hành động tự vệ trước những hành động vũ lực của người khác, trong khi việc áp dụng hình phạt tử hình mang tính chất là việc hành quyết có dự tính một tù nhân đã không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập