1. Quy định chung về hình phạt tù

Đây là loại hình phạt truyền thống trong luật hình sự các nước nói chung và cũng là loại hình phạt được áp dụng phổ biến nhất trong thực tế ở Việt Nam hiện nay. Trong Bộ luật hình sự năm 1999, hầu hết các khung hình phạt đều được xây dựng có hình phạt tù. Ngoài mục đích trừng trị, giáo dục, hình phạt tù còn có tác dụng hạn chế ở mức tối đa khả năng người đã phạm tội tiếp tục phạm tội, bảo vệ các quan hệ xã hội trước sự đe dọa của những hành vi tái phạm. Hình phạt tù theo Luật hình sự Việt Nam bao gồm hình phạt tù có thời hạn và hình phạt tù không thời hạn (hình phạt tù chung thân).

Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt tù có khoảng thời gian xác định. Theo Luật hình sự Việt Nam, khoảng thời gian này là từ 3 tháng đến 20 năm.

Trong trường hợp có tổng hợp hình phạt, hình phạt tù tổng hợp được phép tới 30 năm.

Hình phạt tù không thời hạn còn được gọi là hình phạt tù chung thân. Tuy cũng là loại hình phạt tước tự do nhưng được coi là loại hình phạt đặc biệt giống như hình phạt tử hình, do tính đặc biệt nghiêm khắc của nó (không thời hạn). Hình phạt này được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Hình phạt này không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Hình phạt tù chung thân là hình phạt cẩn thiết trong hệ thống hình phạt ở Việt Nam hiện nay. Tính cần thiết này xuất phát từ thực tế của tình hình phạm tội và yêu cầu của đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nó là hình phạt thay thế cho trường hợp tử hình được ân giảm.

Tính không thời hạn của hình phạt tù chung thân không có tính tuyệt đối. Người bị án phạt tù chung thân vẫn có thể không phải chấp hành hình phạt tù suốt đời mà có thể được giảm thời hạn chấp hành vì cải tạo tốt. Với mức giảm tối đa người bị án phạt tù chung thân chỉ phải thực sự chấp hành hình phạt tù 20 năm.

2. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Tạm đĩnh chỉ chấp hành hình phạt tù là tạm ngừng việc đang chấp hành hình phạt tù trong khoảng thời gian nhất định (Điều 68, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019).

Chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đặt ra cơ sở pháp lí cho người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù có thể được tạm đình chỉ chấp hành khi có những lí do đặc biệt về bản thân, về hoàn cảnh gia đình cũng như về nhu cầu của công vụ. Đối tượng có thể được xét tạm đình chỉ và thời hạn tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù giống như trường hợp hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định tại khoản 1 Điều 67

BLHS. Khoản 1 Điều 68 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

"Người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 67 của Bộ luật này thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù".

Thời hạn cụ thể tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cũng tương ứng như đối với hướng dẫn về hoãn chấp hành hình phạt tù nêu trên đây.

>> Xem thêm:  Tù có thời hạn là gì ? Quy định về tù có thời hạn

Trong thời gian tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người bị kết án trở về với môi trường sống của xã hội nhưng phải chịu sự giám sát và giáo dục của cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Thời gian này chỉ có thể được tính vào thời hạn khi xét thời hiệu thi hành bản án (Điều 60 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hình phạt chính là gì ? Các loại hình phạt chính hiện nay