Với tình hình kinh tế - xã hội đang phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, thì Nhà nước đặc biệt khuyến khích các cá nhân, tổ chức có thể đầu tư, kinh doanh để phù hợp với quá trình hội nhập. Và cùng với đó, các hộ kinh doanh các ngành nghề thông thường như của hàng tạp hóa, bán đồ ăn, cửa hàng dịch vụ chăm sóc sắc đẹp,... cũng đang được thành lập ngày một nhiều hơn, chứng tỏ chính sách khuyến khích kinh doanh của Nhà nước đang được áp dụng tốt. Vậy còn đối với những ngành nghề mới lạ, chẳng hạn như kinh doanh dịch vụ tiếp nhận hồ sơ vay tín dụng giữa cá nhân với ngân hàng, công ty tài chính thì hộ kinh doanh có được phép hoạt động loại hình dịch vụ này không? Bài viết dưới đây sẽ bàn luận về vấn đề này:

1. Các văn bản pháp luật áp dụng:

- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội khóa 13;

- Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Quốc Hội khóa 14;

- Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng 06 năm 2020 của Quốc Hội khóa 14;

- Luật Ngân hàng số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 của Quốc họi khóa 12;

- Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 của Quốc hội khóa 12;

- Luật số 17/2017/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội khóa 14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2018;

- Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ quy định về Đăng ký doanh nghiệp;

- Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về Hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính;

- Nghị định 80/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ sửa đổi Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt;

- Nghị định 16/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 02 năm 2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

- Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.

2. Các khái niệm:

Để hiểu được các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ tiếp nhận hồ sơ vay tín dụng giữa cá nhân với ngân hàng, công ty tài chính của hộ kinh doanh cá thể, ta cần nắm rõ được các khái niệm sau:

Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

- Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.

- Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.

- Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính theo quy định của Luật này.

Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

Công ty tài chính tín dụng tiêu dùng là công ty tài chính chuyên ngành, hoạt động chính trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng theo quy định của Nghị định này.

Tín dụng tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng cho mục đích tiêu dùng của cá nhân bằng nghiệp vụ cho vay bao gồm cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng.

Như vậy vẫn chưa có khái niệm cụ thể của hộ kinh doanh, ngân hàng nhưng theo các khái niệm trên có thể hiểu đơn giản:

- Hộ kinh doanh do chính một cá nhân, một hộ gia đình hoặc một nhóm người làm chủ, hoạt động của hộ kinh doanh chủ yếu về lĩnh vực thương mại.

Dịch vụ trung gian thanh toán là hoạt động làm trung gian kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán.

3. Điều kiện thành lập hộ kinh doanh:

Cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự có quyền thành lập hộ kinh doanh theo quy định tại Chương VIII Nghị định 01/2021/NĐ-CP, trừ các trường hợp sau đây:

- Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Cá nhân, thành viên hộ gia đình chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc, được quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp trong doanh nghiệp với tư cách cá nhân và không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại. Chủ hộ kinh doanh phải thực hiện các nghĩa vụ về thuế, các nghĩa vụ tài chính và các hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cùng các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. 

- Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh bao gồm:

a) Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh;

b) Giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với chủ hộ kinh doanh, thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh trong trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh;

c) Bản sao biên bản họp thành viên hộ gia đình về việc thành lập hộ kinh doanh trong trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh;

d) Bản sao văn bản ủy quyền của thành viên hộ gia đình cho một thành viên làm chủ hộ kinh doanh đối với trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh.

- Thời hạn giải quyết là trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Lệ phí đăng ký hộ kinh doanh: 100.000 đồng/lần.

- Cơ quan thực hiện là Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc UBND cấp quận/huyện.

- Điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh:

 + Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không bị cấm đầu tư kinh doanh;

 + Tên của hộ kinh doanh được đặt theo đúng quy định tại Điều 88 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP;

 + Có hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh hợp lệ;

 + Nộp đủ lệ phí đăng ký hộ kinh doanh theo quy định.

4. Về việc tiếp nhận hồ sơ vay tín dụng:

Tại Phụ lục số I ban hành kèm theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg có quy định về Hoạt động tài chính, ngân hàng và  bảo hiểm gồm các nhóm hoạt động lớn sau: Hoạt động trung gian tiền tệ; Hoạt động công ty nắm giữ tài sản; Hoạt động quỹ tín thác, các quỹ và các tổ chức tài chính khác; Hoạt động dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội); Bảo hiểm; Tái bảo hiểm; Bảo hiểm xã hội; Hoạt động hỗ trợ dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội); Hoạt động hỗ trợ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội và Hoạt động quản lý quỹ.

Trong đó các hoạt động liên quan đến tín dụng gồm có:

- Hoạt động trung gian tiền tệ: Hoạt động ngân hàng trung ương; Hoạt động trung gian tiền tệ khác;

- Hoạt động quỹ tín thác, các quỹ và các tổ chức tài chính khác;

- Hoạt động dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội): Hoạt động cho thuê tài chính; Hoạt động cấp tín dụng khác; Hoạt động dịch vụ tài chính khác chưa được phân vào đâu (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội);

- Hoạt động hỗ trợ dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội): Quản lý thị trường tài chính; Môi giới hợp đồng hàng hóa và chứng khoán; Hoạt động hỗ trợ dịch vụ tài chính chưa được phân vào đâu. 

Có thể thấy hoạt động tiếp nhận hồ sơ vay tín dụng của hộ kinh doanh/cá nhân giữa cá nhân, tổ chức với các ngân hàng, công ty tài chính chưa được phân vào nhóm ngành nào. Trên thực thế thì hoạt động về dịch vụ này pháp luật cũng không cấm nhưng hoạt động vay tín chấp là một dạng giao dịch dân sự, và thường gắn với nhân thân nên để thực hiện được một giao dịch dân sự thì chủ thể đó phải là cá nhân hoặc pháp nhân (theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015). Và hộ gia đình không phải là một loại hình doanh nghiệp nên không có tư cách pháp nhân nên không thể thực hiện các giao dịch dân sự. Nếu muốn vay vốn, hộ kinh doanh phải chuyển đổi thdoanh nghiệp hoặc chủ hộ phải tự đứng tên vay.

Như vậy, với dịch vụ tiếp nhận hồ sơ vay tín chấp thì chưa có quy định nào về dịch vụ này, dịch vụ cũng không thuộc các ngành nghề mà pháp luật cấm hoạt động. Tuy nhiên như đã nêu ở trên thì hoạt động vay tín dụng thường chỉ gắn với cá nhân và pháp nhân nên nếu đứng ra để tiếp nhận hồ sơ vay và cho vay giữa các bên sẽ dễ gặp các vấn đề về tranh chấp, rủi ro cao.

5. Điều kiện để hoạt động trung gian tthanh toán:

Các dịch vụ trung gian thanh toán và điều kiện cung ứng dịch vụ này được quy định tại Điều 15 Nghị định số 80/2016/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 16/2019/NĐ-CP như sau:

1. Dịch vụ trung gian thanh toán bao gồm:

a) Dịch vụ cung ứng hạ tầng thanh toán điện tử;

b) Dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán;

c) Các dịch vụ trung gian thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

2. Điều kiện cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán

Các tổ chức không phải là ngân hàng muốn cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phải đảm bảo đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Có giấy phép thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp;

b) Có phương án kinh doanh dịch vụ trung gian thanh toán được phê duyệt theo đúng quy định về thẩm quyền đầu tư tại điều lệ hoạt động của tổ chức, trong đó tối thiểu phải có các nội dung: Quy trình nghiệp vụ kỹ thuật của dịch vụ đề nghị cấp phép; cơ chế đảm bảo khả năng thanh toán; quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ; quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn, bảo mật; các nguyên tắc chung và quy định nội bộ về phòng, chống rửa tiền; quy trình và thủ tục giải quyết yêu cầu tra soát, khiếu nại, tranh chấp; quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình cung ứng dịch vụ;

c) Có vốn điều lệ tối thiểu là 50 tỷ đồng;

d) Điều kiện về nhân sự:

Người đại diện theo pháp luật, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của tổ chức xin phép phải có trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm thực tế trong quản trị kinh doanh hoặc lĩnh vực phụ trách.

Đội ngũ cán bộ thực hiện dịch vụ trung gian thanh toán có trình độ chuyên môn về lĩnh vực đảm nhiệm;

đ) Điều kiện về kỹ thuật: Có cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống công nghệ thông tin, giải pháp công nghệ phù hợp với yêu cầu của hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; hệ thống kỹ thuật dự phòng xây dựng độc lập với hệ thống chính đảm bảo cung cấp dịch vụ an toàn và liên tục khi hệ thống chính có sự cố và tuân thủ các quy định khác về đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng;

e) Đối với dịch vụ chuyển mạch tài chính, dịch vụ bù trừ điện tử, tổ chức cung ứng dịch vụ phải được một tổ chức thực hiện quyết toán kết quả bù trừ giữa các bên liên quan;

g) Đối với dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán cho các khách hàng có tài khoản tại nhiều ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ phải kết nối với một tổ chức cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính và dịch vụ bù trừ điện tử được Ngân hàng Nhà nước cấp phép để thực hiện chuyển mạch và xử lý bù trừ các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán của tổ chức.

3. Tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (trừ ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này thực hiện thủ tục xin cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.

4. Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cung ứng dịch vụ ví điện tử chịu sự quản lý và kiểm tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài ra, hoạt động cấp tín dụng khác và hoạt động tài chính khác chưa được phân vào đâu (cấp tín dụng tiêu dùng, cho vay tiền ngoài hệ thống ngân hàng; hoạt động bao thanh toán) theo hướng dẫn tại Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg thì nhóm hoạt động này gồm:

+ Các hoạt động dịch vụ tài chính chủ yếu liên quan đến việc hình thành các khoản cho vay của các thể chế không liên quan đến các trung gian tiền tệ (như là các công ty đầu tư vốn mạo hiểm, các ngân hàng chuyên doanh, các câu lạc bộ đầu tư).

+ Các trung gian tài chính chủ yếu khác phân phối ngân quỹ trừ cho vay.

Từ các quy định trên, có thể thấy việc kinh doanh hoạt động trung gian thanh toán chỉ có pháp nhân hoặc ngân hàng được thực hiện.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về nghành nghề kinh doanh, hộ kinh doanh. Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật dân sự... hãy liên hệ theo thông tin dưới đây để được tư vấn cụ thể và toàn diện nhất.

Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến. Đội ngũ luật sư/chuyên viên luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.