1. Hộ kinh doanh là gì? Doanh nghiệp là gì?

Hộ kinh doanh là một hình thức kinh doanh khá bổ biến và được nhiều người lựa chọn khi tiến hành kinh doanh với mô hình nhỏ lẻ.

Căn cứ theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì:

"Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh"

Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có trụ sở và tài sản riêng, được thành lập theo quy định của pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều các loại hình doanh nghiệp với các loại hình kinh doanh khác nhau như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, nhóm công ty,...

Khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP quy định về hộ kinh doanh như sau:

"Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh"

Như vậy, hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên trong hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ.

 

2. Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh có thể do một cá nhân, một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ.

Hình thức hộ kinh doanh là một hình thức đặc thù, ngay từ khi nó ra đời pháp luật đã chú trọng đến phạm vi chủ thể tham gia kinh doanh dưới hình thức này. Mặc dù hiện nay phạm vi đó đã có sự mở rộng hơn so với trước đây nhưng cũng chỉ bao gồm 3 đối tượng: cá nhân - hộ gia đình và nhóm người.

Thứ nhất: Về cá nhân tham gia hộ kinh doanh:

Hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập thực chất là cá nhân kinh doanh. Cá nhân này là chủ sở hữu duy nhất đồng thời là người quyết định mọi vấn đề liên quan đến hộ kinh doanh quyết định việc đăng ký kinh doanh, thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc chấm dứt sự tồn tại của hộ kinh doanh. Về mặt tài chính, cá nhân là chủ hộ cũng sẽ là người duy nhất được hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được, cũng như chịu trách nhiệm với mọi nghĩa vụ tài chính, mọi rủi ro phát sinh từ hoạt động của hộ kinh doanh.

Từ trước đến nay, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép cá nhân là công dân Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự được làm chủ hộ kinh doanh. Còn đối tượng là cá nhân nước ngoài hiện nay vẫn chưa được phép thực hiện kinh doanh dưới hình thức này. Trên thực tế, đã có những vụ việc chuyển nhượng hộ kinh doanh như: các quán cà phê, quán ăn... (đăng ký hình thức hoạt động là hộ kinh doanh) cho người nước ngoài, nhưng sau đó họ phải đăng ký mới với một hình thức khác mà không được tiếp tục thực hiện ở hình thức hộ kinh doanh.

Đây là một điểm khác biệt so với quy định về các hình thức kinh doanh khác, và cũng là một điểm rất đặc trưng phù hợp với bản chất vốn có của hộ kinh doanh tại Việt Nam 

Thứ hai: Về hộ gia đình thành lập hộ kinh doanh

Hộ gia đình là một đơn vị xã hội bao gồm nhiều thành viên cùng sống chung một gia đình. Chủ thể này vẫn luôn là nòng cốt gắn liền với chính sách phát triển hộ kinh doanh của Nhà nước ta trong nhiều giai đoạn. Để tham gia vào hoạt động kinh tế nói chung và thiết lập hộ kinh doanh nói riêng, các thành viên trong hộ gia đình phải có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động chung trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định.

Hộ gia đình sẽ phải cử ra một người đại diện hợp pháp gọi là chủ hộ. Người đại diện hợp pháp này sẽ thay mặt hộ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cả hộ. Nhưng mọi lợi nhuận và rủi ro vẫn sẽ chia cho tất cả các thành viên trong hộ gia đình theo thỏa thuận mà họ đã thiết lập với nhau. Mặc dù pháp luật không đề cập đến, nhưng vì hộ gia đình là một đơn vị xã hội mang bản sắc riêng của mỗi quốc gia nên chúng ta có thể hiểu hộ gia đình tham gia hộ kinh doanh phải là hộ gia đình Việt Nam được thiết lập hợp pháp theo quy định của pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Thứ ba, về nhóm người tham gia hộ kinh doanh

Chủ thể này mới được phép tham gia thành lập hộ kinh doanh từ sau khi Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 19/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh ra đời. Sự tham gia của họ đã phần nào làm giảm đi tính cá thể, tính hộ gia đình trong bản chất của hộ kinh doanh và làm tăng tính hội nhập cho hình thức này. Chủ thể là nhóm người không có mối quan hệ đặc biệt như hộ gia đình mà đó là tập hợp của nhiều cá nhân, có chung mục tiêu, cùng nhau góp vốn, góp sức để thực hiện hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, những cá nhân này phải là công dân Việt Nam, từ đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Cũng giống như hộ gia đình, để hộ kinh doanh có thể hoạt động được, các thành viên trong nhóm sẽ phải cử ra một người làm đại diện để thay mặt tất cả các thành viên, nhân danh hộ kinh doanh trong mối quan hệ với Nhà nước và với các khách hàng, đối tác... Tuy nhiên, mọi lợi nhuận, trách nhiệm, rủi ro phát sinh từ hoạt động của hộ kinh doanh cũng sẽ được chia cho tất cả các thành viên trong nhóm theo thỏa thuận mà họ xác lập.

Hộ kinh doanh thường kinh doanh ở quy mô nhỏ

Đặc điểm này không phải xuất phát từ bản chất của hộ kinh doanh, mà được hình thành dựa trên quan điểm pháp lý của nhà làm luật. Với mục đích xây dụng mô hình hộ kinh doanh phù hợp với lựa chọn của các đối tượng kinh doanh nhỏ và để thuận lợi cho việc quản lý, các quy định của pháp luật đều hướng tới việc khống chế quy mô của hộ kinh doanh.

Đây là đặc điểm để phân biệt hộ kinh doanh với các hình thức kinh doanh khác. Nếu như đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, pháp luật không hề có những hạn chế về việc họ được sử dụng bao nhiêu lao động, được mở bao nhiêu cơ sở sản xuất kinh doanh... thì đối với hộ kinh doanh lại khác. Có những con số cụ thể được đưa ra buộc hộ kinh doanh phải thực hiện.

Theo pháp luật hiện hành, một hộ kinh doanh chỉ được sử dụng không quá 10 lao động và chỉ được đăng ký kinh doanh tại 01 địa điểm. Như vậy, các nhà đầu tư muốn mở rộng quy mô, vượt qua những con số nêu trên thì không được phép hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh nữa mà bắt buộc phải chuyển sang những hình thức kinh doanh khác.

Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân.

Ở Việt Nam, pháp luật không đưa ra định nghĩa tư cách pháp nhân là gì, mà chỉ có quy định các điều kiện để một tổ chức có tư cách pháp nhân. Căn cứ vào Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Được thành lập theo quy định của pháp luật - Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ theo quy định của pháp luật.

- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình

- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Đối với hộ kinh doanh có một điều kiện mà xét về bản chất chủ thể này sẽ không đáp ứng được đó chính là sự độc lập về mặt tài sản. Trong hộ kinh doanh không có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của hộ và tài sản của các thành viên. Đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ sở hữu thì tài sản của hộ kinh doanh cũng là tài sản của chủ hộ và ngược lại. Đối với hộ kinh doanh do một hộ gia đình hoặc nhóm người làm chủ, mặc dù có sự góp vốn, tuy nhiên kết quả của sự góp vốn đó chirlaf làm hình thành phần tài sản chung một cách đơn giản mà không tạo nên tài sản riêng cho hộ kinh doanh đó, trong quá trình hoạt động các thành viên cũng có thể phải tiếp tục bỏ tài sản riêng của mình vào để duy trì hoạt động của hộ. Do đó, về mặt pháp lý, rõ ràng hộ kinh doanh không đáp ứng điều kiện để trở thành pháp nhân.

Chủ hộ kinh daonh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh

Do không có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của Hộ kinh doanh với tài sản của chủ hộ kinh doanh nên trong quá trình hoạt động, các chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu hộ kinh doanh sẽ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ hoặc các nghĩa vụ tài chính khác của hộ.

Đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ: Cá nhân là chủ sở hữu hộ kinh doanh sẽ là người duy nhất chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động của hộ kinh doanh. Nếu có phát sinh các khoản nợ, các nghĩa vụ tài chính mà số tiền đó lớn hơn số vốn kinh daonh của hộ thì chủ hộ không chỉ chịu trách nhiệm bằng phần vốn và tài sản dùng để trực tiếp kinh doanh mà còn phải chịu nghĩa vụ trên phần tài sản sở hữu của mình cho dù phần tài sản đó không đưa vào kinh doanh.

Cụ thể, nếu số vốn chung trong hộ kinh doanh không đủ để thanh toán các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính thì phải sử dụng tài sản chung (không đưa vào kinh doanh) của hộ gia đình hoặc các thành viên phải đóng góp bằng tài sản riêng của mình để trả nợ. Việc góp thêm này sẽ kết thúc khi các khoản nợ của hộ kinh doanh được thanh toán kết. Pháp luật không có quy định về mức vốn góp cụ thể của các thành viên trong trường hợp này, trên thực tế các thành viên có thể chia theo tỷ lệ đồng đều hoặc một tỷ lệ khác tùy theo thỏa thuận của hộ gia đình hoặc của nhóm với nhua, tuy nhiên trong mọi trường hợp, các thành viên phải có trách nhiệm thanh toán hết các khoản nợ cho chủ nợ.

Trường hợp có một trong số các thành viên của hộ gia đình hoặc của nhóm người không có khả năng góp thêm tiền và tài sản để trả nợ theo thỏa thuận thì các thành viên khác có trách nhiệm phải lấy tài sản của mình để tiếp tục trả nợ cho đến khi khoản nợ được thanh toán đầy đủ.

 

3. Sự khác biệt giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp

Về chủ thể thành lập của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh:

Căn cứ theo quy định tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP, chủ thể thành lập của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh có những điểm khác biệt sau đây:

- Một là, đối với doanh nghiệp tư nhân chỉ duy nhất do một cá nhân thành lập và cá nhân đó phải chịu mọi trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Trong khi đó, đối với hộ kinh doanh, do tính chất của hộ kinh doanh có thể do một cá nhân thành lập hoặc có thể là một nhóm, một hộ gia đình cùng thành lập. Do đó, việc chịu trách nhiệm đối với hộ kinhd doanh cũng sẽ mang tính chất là trên cơ sở toàn bộ tài sản của cá nhân, của nhóm hoặc của hộ gia đình. Như vậy, mặc dù cùng tính chất là chịu trách nhiệm vô hạn của người thành lập đối với doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh. Tuy nhiên, nếu như doanh nghiệp tư nhân chỉ là trách nhiệm của một cá nhân thì ở hộ kinh doanh có thể là của một nhóm người hoặc một hộ gia đình.

- Hai là, về quyền góp vốn thành lập của chủ doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh: Theo quy định tại khoản 4 điều 1888 Luật Doanh nghiệp năm 2020, về nguyên tắc doanh nghiệp tư nhân sẽ không được thực hiện góp vốn thành lập cũng như việc mua cổ phần hoặc phần vốn góp đối với những mô hình công ty khác như công ty hợp danh, trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Trong khi đó, đối với hộ kinh doanh, theo quy định tại Khoản 2 Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP, cá nhân, hộ gia đình thành lập hộ kinh doanh lại hoàn toàn được quyền góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp với tư cách pháp nhân.

- Ba là, đối với doanh nghiệp tư nhân, người thành lập doanh nghiệp tuyệt đối không thể đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc thành viên trong những công ty hợp danh. Tuy nhiên, đối với hộ kinh doanh, vẫn có quy định ngoại lệ, theo đó cá nhân thành lập hoặc tham gia góp vốn thành lập hộ kinh doanh vẫn có thể đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại (theo quy định tại Khoản 3 Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP)

Về quy mô của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh

- Doanh nghiệp tư nhân được thành lập với vốn đầu tư do chủ doanh nghiệp đăng ký, không giới hạn về quy mô, vốn và địa điểm kinh doanh. Ngược lại, đối với hộ kinh doanh lại có những giới hạn cụ thể, theo đó, hộ kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới 10 lao động. Đối với những hộ kinh doanh có quy mô lớn hơn phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về việc đăng ký doanh nghiệp (theo quy định tại Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP). Hiện nay, theo quy định của Nghị định 01/2021/NĐ-CP không còn quy định những hộ kinh doanh có quy mô lớn hơn phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp.

Về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh

- Doanh nghiệp tư nhân: buộc phải đăng ký kinh doanh, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, phải có con dấu trong quản lý được cơ quan công an cấp. Ngược lại, đối với hộ kinh doanh không phải trong mọi trường hợp đều phải đăng ký kinh doanh. Cụ thể đối với những hộ gia đình đang trực tiếp thực hiện việc sản xuất về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, muối hoặc thực hiện những hoạt động như buôn bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, dịch vụ thu nhập thấp hoặc buôn chuyến thì trừ những ngành nghề có điều kiện sẽ không phải thực hiện đăng ký kinh doanh (theo quy định tại Khoản 2 điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP).

 

4. Về ưu điểm, nhược điểm của mô hình kinh doanh doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh

Trên cơ sở những nhận định về đặc điểm đặc thù của từng loại hình kinh doanh kể trên có thể khẳng định, mỗi loại hình kinh doanh đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, cụ thể như sau:

Đối với doanh nghiệp tư nhân: Đây có thể là một trong những mô hình kinh doanh thuận lợi trong việc quyết định các vấn đề của doanh nghiệp bởi chỉ có một cá nhân làm chủ. Đồng thời cũng là mô hình chủ động trong việc vay vốn bởi chế độ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên bên cạnh đó, doanh nghiệp tư nhân lại không có tư cách pháp nhân, chế độ chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản của doanh nghiệp cũng được xem là một điểm rủi ro khi gặp khó khăn về kinh doanh đối với chủ doanh nghiệp.

Đối với hộ kinh doanh: Đây có thể nói là mô hình kinh doanh giản đơn, linh hoạt, phù hợp với cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ. Tuy nhiên, chính vì không có tư cách pháp nhân và việc chủ hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình với hoạt động kinh doanh của hộ bên cạnh bộ máy đơn giản khiến cho loại hình này có tính chất hoạt động manh mún, không chặt chẽ như loại hình kinh doanh khác.

 

5. Hộ kinh doanh có phải doanh nghiệp không?

Căn cứ theo quy định của Nghị định 01/2021/NĐ-Cp thì hộ kinh doanh có tên gọi riêng, có địa điểm kinh doanh, có ngành nghề kinh doanh vẫn không được xem là doanh nghiệp bởi những lý do sau

- Thứ nhất, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân, bởi lẽ: Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập vì không có dấu tròn, không cần vốn pháp định, theo chế độ thuế khoán, không viết hóa đơn giá trị gia tăng, không làm báo cáo tài chính cho sở thuế cũng như không ký kết các hợp đồng kinh tế. Trong khi đó doanh nghiệp thì được pháp luật quy định rất rõ ràng và chặt chẽ về số vốn, chế độ thuế và dấu tròn doanh nghiệp và được ký kết các hợp đồng kinh tế.

- Thứ hai, hộ kinh doanh không phải là một chủ thể pháp lý. Các thành viên là cá nhân tham gia hộ kinh doanh đó mới là chủ thể pháp lý. Hộ kinh doanh chỉ là cách gọi chung cho những nhóm cá nhân kinh doanh với trách nhiệm vô hạn (chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh)

- Thứ ba, đối với hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký trừ trường hợp kinh doanh ngành nghề có điều kiện. Hộ kinh doanh được hiểu là cá nhân kinh doanh và thu nhập tính thuế và thu nhập cá nhân của người đứng tên hộ kinh doanh đó.

Với những điểm nổi bật trên thì có thể thấy rằng hộ kinh doanh cá thể không phải là doanh nghiệp.

Nếu có bất kỳ vướng mắc nào về vấn đề trên hoặc những vấn đề pháp lý khác xin vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được tư vấn và hỗ trợ giải đáp thắc mắc. Rất mong nhận được sự hợp tác.Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!