1.Dự án nào là dự án đầu tư công?

Khoản 1 Điều 6 của Luật Đầu tư công quy định dự án đầu tư công được phân loại như sau: (a) Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; (b) Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác không quy định tại điểm a khoản này. Theo quy định này thì khái niệm dự án đầu tư công có cấu phần xây dựng không bao gồm các dự án bảo trì, sửa chữa.

Theo khoản 1, khoản 2 Điều 1 Thông tư số 92/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính về về lập dự toán, phân bổ và quyết toán kinh phí để thực hiện sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất quy định:

- Thông tư này điều chỉnh đối với kinh phí để thực hiện các công trình sửa chữa, bảo trì cơ sở vật chất theo quy định của Luật Xây dựng; kinh phí để thực hiện các công trình cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất.

- Thông tư này không điều chỉnh đối với: Kinh phí để thực hiện các công trình sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; Xây dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có; Các dự án sử dụng vốn đầu tư công; Các công trình sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng có tính chất đặc thù đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật riêng.

- Kinh phí để thực hiện các công trình sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất từ các nguồn kinh phí sau: Nguồn kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước trong các lĩnh vực theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; Nguồn phí được để lại theo chế độ quy định để chi thường xuyên.

Căn cứ các quy định nêu trên, ông Linh hỏi: Đối với các dự án sửa chữa, bảo trì theo quy định của pháp luật xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước (nguồn chi thường xuyên) có phải là dự án đầu tư công hay không? Đối với các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất sử dụng vốn ngân sách nhà nước (nguồn chi thường xuyên) có phải thực hiện lập, thẩm định và quyết định chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư công hay không (có cùng đối tượng là cải tạo, nâng cấp theo khái niệm tại khoản 1 Điều 6) và loại dự án này có bắt buộc phải sử dụng nguồn vốn chi đầu tư phát triển hay được phép sử dụng cả nguồn vốn chi thường xuyên và nguồn vốn chi đầu tư phát triển?

2.Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân loại

a) Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án;

b) Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác không quy định tại điểm a khoản này.”

Theo Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 92/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về lập dự toán, phân bổ và quyết toán kinh phí để thực hiện sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất, phạm vi điều chỉnh không bao gồm: “(1) Kinh phí để thực hiện các công trình sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; (2) Xây dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có; (3) Các dự án sử dụng vốn đầu tư công; (4) Các công trình sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng có tính chất đặc thù đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật riêng”.

Theo các quy định nêu trên, các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất là dự án đầu tư có cấu phần xây dựng, phải thực hiện theo quy trình lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14. Các hoạt động sửa chữa, bảo trì dự án thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Thông tư hướng dẫn số 92/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính.

3. Hồ sơ trình cấp có thẩm quyền và thời gian quyết định chủ trương đầu tư

Hồ sơ trình cấp có thẩm quyền và thời gian quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công nhóm A, B, C

Hồ sơ trình cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công nhóm A, B, C gồm:

a) Các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này; trong đó các nội dung trong tờ trình và báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 9 của Nghị định này đã được hoàn thiện theo báo cáo thẩm định của Hội đồng thẩm định hoặc cơ quan chủ trì thẩm định;

b) Báo cáo thẩm định của Hội đồng thẩm định hoặc cơ quan chủ trì thẩm định về chủ trương đầu tư chương trình, dự án.

Số lượng hồ sơ trình cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án quy định tại khoản 1 Điều này là 05 bộ tài liệu.

 Thời gian quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án kể từ ngày cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư nhận đủ hồ sơ hợp lệ như sau:

a) Chương trình đầu tư công (không bao gồm chương trình mục tiêu quốc gia): Không quá 20 ngày;

b) Dự án nhóm A: Không quá 15 ngày;

c) Dự án nhóm B, C: Không quá 10 ngày;

Trường hợp chương trình, dự án do Hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư, thời gian quyết định chủ trương đầu tư phù hợp với chương trình kỳ họp của Hội đồng nhân dân.

Trong thời gian 15 ngày kể từ ngày cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án:

a) Bộ, cơ quan trung ương và địa phương quản lý chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

b) Cơ quan quản lý chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước các cấp địa phương gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư cùng cấp quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4.Các trường hợp điều chỉnh chủ trương đầu tư

Các trường hợp điều chỉnh chủ trương đầu tư, hồ sơ trình cấp có thẩm quyền và thời gian quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công nhóm A, B, C

Trường hợp chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư nhưng chưa quyết định đầu tư, nếu có thay đổi nội dung của quyết định chủ trương đầu tư, việc điều chỉnh chủ trương đầu tư thực hiện theo Điều 34 của Luật Đầu tư công.

Trường hợp chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, đang trong quá trình thực hiện, việc điều chỉnh chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 43 của Luật Đầu tư công.

Hồ sơ trình cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án bao gồm:

a) Tờ trình cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án, trong đó làm rõ các nội dung: Lý do điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án; các nội dung điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án tương ứng với các nội dung chủ yếu của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư quy định tại các Điều 29, 30, 31 của Luật Đầu tư công;

b) Hồ sơ kèm theo Tờ trình gồm: quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án; quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án trước đó (nếu có); tài liệu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Nghị định này có bổ sung nội dung điều chỉnh chủ trương đầu tư;

c) Báo cáo thẩm định của Hội đồng thẩm định hoặc cơ quan chủ trì thẩm định về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án;

d) Các tài liệu khác có liên quan (nếu có).

Số lượng hồ sơ trình cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định này.

Thời gian quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án kể từ ngày cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư nhận đủ hồ sơ hợp lệ như sau:

a) Chương trình đầu tư công (không bao gồm chương trình mục tiêu quốc gia): Không quá 20 ngày;

b) Dự án nhóm A: Không quá 15 ngày;

c) Dự án nhóm B, C: Không quá 10 ngày.

5.Đầu tư công tiếp tục là động lực tăng trưởng kinh tế

 

Theo UBND TP.Hà Nội, việc giải ngân đầu tư công cần được khẩn trương triển khai quyết liệt để hoàn thành đúng tiến độ trong năm 2022. Để đạt được nhiệm vụ này, UBND TP.Hà Nội yêu cầu các quận huyện, đơn vị nâng cao hơn nữa trách nhiệm trong quản lý, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Theo Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Chu Ngọc Anh, Hà Nội sẽ vào cuộc quyết liệt để đẩy nhanh tiến độ đầu tư công cũng như cam kết của các chủ đầu tư. Hiện tại, các ngành, các địa bàn tập trung quyết liệt triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2022 ngay từ những ngày đầu, tháng đầu và trách nhiệm được gắn với người đứng đầu.

Được biết, năm 2022 là năm có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch 5 năm 2021-2025. Dự báo tình hình trong nước và quốc tế vẫn còn những khó khăn thách thức đặc biệt là dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Theo đó, đầu tư công tiếp tục là động lực cho tăng trưởng năm 2022 và giai đoạn sắp tới.

Để thúc đẩy tăng trưởng, triển khai các dự án đầu tư công đúng tiến độ, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo các bộ, ngành địa phương tập trung các giải pháp, nhiệm vụ đẩy mạnh giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2022 ngay từ những tháng đầu năm, cụ thể: Khẩn trương phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công năm 2022 đã được giao theo đúng quy định; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục đầu tư các chương trình, dự án khởi công mới sử dụng vốn đầu tư năm 2022 để sớm hoàn thành việc giao kế hoạch vốn; việc bố trí kế hoạch vốn cho các nhiệm vụ, dự án phải bảo đảm phù hợp với khả năng thực hiện và giải ngân.

Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương, trong tổng số vốn đầu tư công trung hạn từ vốn ngân sách trung ương là hơn 1 triệu tỉ đồng, thì số vốn còn lại của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 là 639.061 tỉ đồng. Trong số này, có 242.075 tỉ đồng dự kiến bố trí cho 565 dự án khởi công mới, còn lại chưa phân bổ chi tiết vốn.